Mô hình nuôi, ấp trứng gà ta hiệu quả 19-07-2019

Mô hình nuôi, ấp trứng gà ta hiệu quả

Anh Trần Thiện Thanh, ở ấp Giồng Chi, xã An Hiệp, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre có hơn 20 năm gắn bó với nghề ấp trứng vịt, tuy nhiên cách đây 3 năm, anh chuyển sang nghề ấp trứng gà ta và đạt hiệu quả cao. Anh Thanh chăm sóc gà nuôi trong lồng sắt. Anh Thanh chuyển sang nghề ấp trứng gà để cung cấp con giống cho các hộ chăn nuôi. Đối với những hộ “thân thiết”, anh bán con giống và thức ăn cho đến khi nào xuất chuồng thì mới lấy tiền. Hộ nào nuôi đến khi gà đẻ trứng thì anh thu mua trứng và trừ tiền dần. Song song đó, anh còn tuyển chọn và mua gà mái ta hậu bị từ các hộ nuôi về nuôi để cho đẻ trứng. Lúc đầu, anh nuôi quy mô 1 ngàn con, sau đó tăng lên 2 ngàn con. Tháng 12-2018, do nhu cầu mở rộng quy mô nuôi gà ta cho đẻ trứng, anh dời đến đất nhà ở ấp An Điền Bé, xã An Hiệp để nuôi. Trên diện tích 9 công đất ruộng, anh san lấp mặt bằng và đầu tư láng trại nuôi gà trong lồng sắt, với quy mô 7 ngàn con. Mỗi con gà mái nuôi trong lồng có chiều ngang 40cm, cao 40cm, sâu 50cm. Trung bình từ 6 – 8 con gà mái thì bố trí 1 con gà trồng. Gà trống mỗi ngày được di chuyển sang 1 ô của gà mái. Cứ như thế mà xoay vòng, để gà mái đẻ trứng, ấp ra gà con. Gà nuôi trong lồng có sẵn thức ăn và nước uống, cứ thế mà ăn và đẻ trứng. Trung bình mỗi ngày, đàn gà từ 30 – 35% con đẻ trứng, cao nhất là 40%. Anh đem trứng gà đẻ vào máy ấp trứng, sau 20 ngày nở ra gà con. Không chỉ cung cấp con giống và thu mua trứng gà trên địa bàn huyện Ba Tri, anh Thanh còn mở rộng sang một số xã ở huyện Giồng Trôm. Riêng các hộ dân ở huyện Mỏ Cày Nam và ngoài tỉnh, anh bán con giống thu tiền liền. Hiện anh thu trứng gà của hộ dân với giá 5 ngàn đồng/trứng. Khi ấp thành gà con, anh bán giá 10 ngàn đồng/con. Gà nuôi với tỷ lệ trống và mái cân đối nên ấp cho ra gà con tỷ lệ cao. Để đảm bảo môi trường nuôi, anh mua mụn cưa và chất phân hủy lót dưới chuồng gà để giảm mùi hôi. Theo anh Thanh, phân gà bán giá 10 ngàn đồng/bao, đủ trả công lao động vệ sinh chuồng trại, tiền mua mụn cưa và bao chứa phân. Hiện tại, anh Thanh tiếp tục đầu tư thêm láng trại trên phần diện tích đất còn lại để mở rộng quy mô nuôi, dự kiến nâng tổng đàn lên 10 ngàn con. Khi đầu tư láng trại nuôi quy mô lớn, anh Thanh được Dự án AMD huyện hỗ trợ 1 máy ấp trứng trị giá 50 triệu đồng. Ngoài ra, anh còn mua thêm 5 cái máy ấp trứng để ấp. Anh cũng đã cam kết với Dự án AMD huyện đầu tư con giống, bán thức ăn và thu mua trứng gà của các hộ dân nuôi gà trong xã. Nhiều hộ dân gắn kết với anh được bán con giống và thức ăn đến khi gà nuôi lớn xuất chuồng hoặc đẻ trứng mới thu tiền mà không tính lãi. Bài, ảnh: Trần Quốc Nguồn: Báo Đồng Khởi

Đọc tiếp
Khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi 19-07-2019

Khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang dự thảo Thông tư quy định việc cập nhật, khai thác và quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi. Theo dự thảo, cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi gồm: Cơ sở dữ liệu về văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến chăn nuôi; cơ sở dữ liệu về giống vật nuôi, nguồn gen giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi; cơ sở dữ liệu về cơ sở chăn nuôi, chế biến và thị trường sản phẩm chăn nuôi; cơ sở dữ liệu về vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh; cơ sở dữ liệu khác về chăn nuôi; cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính lĩnh vực chăn nuôi. Ảnh minh họa Tổ chức thực hiện chức năng đầu mối xây dựng, cập nhật dữ liệu quốc gia về chăn nuôi cấp trung ương và cấp tỉnh được quyền khai thác dữ liệu quốc gia về chăn nuôi theo phân cấp. Tổ chức, cá nhân có quyền tiếp cận cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi những thông tin sau: 1- Hệ thống cơ sở dữ liệu về văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến chăn nuôi; 2- Danh sách cơ sở sản xuất giống vật nuôi; số lượng và tên giống vật nuôi được công bố tiêu chuẩn chất lượng và công bố hợp quy; Danh mục giống vật nuôi cần bảo tồn; Danh mục giống vật nuôi cấm xuất khẩu; 3- Cơ sở chăn nuôi; phương thức, quy mô chăn nuôi; sản lượng sản phẩm chăn nuôi; 4- Danh sách cơ sở đủ điều kiện sản xuất, nhập khẩu và mua bán thức ăn chăn nuôi, sản phẩm xử lý chất thải trong chăn nuôi; 5- Thông tin về thị trường: Giá giống vật nuôi; giá thức ăn chăn nuôi nguyên liệu; giá sản phẩm chăn nuôi; giá sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi; 6- Thông tin về vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh; 7- Danh sách các cơ sở chế biến sản phẩm chăn nuôi. Các tổ chức, cá nhân cung cấp, cập nhật thông tin vào hệ thống được quyền gửi và nhận các thông tin sau: Báo cáo thống kê về đàn vật nuôi; báo cáo về thị trường, giá cả sản phẩm chăn nuôi, thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu, xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi; gửi các thông tin, ý kiến đề xuất tới cơ quan quản lý. Quản lý cấp, đóng tài khoản Cục Chăn nuôi căn cứ vào yêu cầu công tác quản lý nhà nước về chăn nuôi để tổ chức việc cấp, khóa tài khoản truy cập cho cá nhân (cán bộ, công chức, viên chức) và tổ chức (cơ quan hành chính nhà nước). Về quản lý tài khoản truy cập, dự thảo nêu rõ: Tổ chức được cấp tài khoản phân công cho cá nhân thuộc tổ chức mình thực hiện việc quản trị, cập nhật, khai thác và quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi đúng quy định; cá nhân đã được cấp tài khoản thực hiện bảo mật, quản trị, cập nhật, khai thác, quản lý và sử dụng tài khoản được cấp đúng quy định. Theo dự thảo, tài khoản truy cập vào cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi đã được cấp bị khóa khi thuộc một trong các trường hợp sau: Tổ chức bị chia tách, sáp nhập, giải thể, bị chấm dứt hoạt động, chuyển nhượng; cá nhân đã được cấp tài khoản thay đổi đơn vị công tác, nghỉ việc, nghỉ hưu.

Đọc tiếp
Xu thế Chăn nuôi Việt Nam: Công nghệ, trí tuệ nhân tạo 19-07-2019

Xu thế Chăn nuôi Việt Nam: Công nghệ, trí tuệ nhân tạo

Chăn nuôi là lĩnh vực có tiềm năng rất lớn, song việc chăn nuôi nhỏ lẻ, lạc hậu khiến sản phẩm rất khó xuất khẩu, đồng thời dịch bệnh xảy ra nhiều. Để phát triển, việc ứng dụng những công nghệ hiện đại là xu thế tất yếu của chăn nuôi Việt Nam trên con đường hội nhập quốc tế. “Ứng dụng hay là chết”? Ngành chăn nuôi đang chiếm vị trí rất quan trọng, tạo ra việc làm và an sinh xã hội. Ngành cũng là sinh kế cho 7 triệu hộ trong 9,58 triệu hộ nông nghiệp (số liệu tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011 của Tổng cục Thống kê). Theo Hội Chăn nuôi Việt Nam, chi phí sản xuất 1 kg thịt gà ở Ấn Độ là 1,1 USD, Malaysia 1,15 USD, trong khi ở Việt Nam là 1,6 USD; giá thịt heo tại Mỹ rẻ hơn Việt Nam 40%… Giá thức ăn của Việt Nam cũng cao hơn thế giới 15 - 20%, do phần lớn nguyên liệu là nhập khẩu. Hội Chăn nuôi Việt Nam cho rằng, ứng dụng công nghệ cao chính là bước đột phá nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm lên 15 - 20%, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi trong nước với nhập khẩu. Ông Nguyễn Văn Bộ, nguyên Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam từng phát biểu: “Hiện tại ở Việt Nam, một người làm nông nghiệp chỉ nuôi được 2 - 2,5 người, trong khi ở các nước phát triển, một lao động nông nghiệp nuôi được 100 - 150 người. Năng suất lao động ở Việt Nam chỉ bằng 1 - 1,5% so với các nước phát triển”. Có thể nói với 7 triệu hộ chăn nuôi, nếu được tổ chức tốt, sẽ có thể tạo ra lượng của cải nuôi sống 700 triệu hộ gia đình khác. Khi ASF lan rộng, người chăn nuôi càng thấm thía giá trị của chăn nuôi 4.0. Chăn nuôi an toàn sinh học có thể nói không thể thiếu công nghệ 4.0. Công nghệ này giúp tự động hóa, kiểm soát vệ sinh, định kỳ phun thuốc sát trùng xung quanh khu chăn nuôi, lối đi trong khu chăn nuôi… Ngoài ra, công nghệ 4.0 giúp truy xuất nguồn gốc, tạo niềm tin cho người tiêu dùng trong khi dịch bệnh vẫn khó kiểm soát. Minh họa: Nguyễn Hùng Mở cơ hội cho nông dân Có ý kiến cho rằng, công nghệ chăn nuôi sử dụng tin học và internet 4.0 chỉ phù hợp với các doanh nghiệp lớn, cần đầu tư lớn, song ngược lại, các doanh nghiệp và chuyên gia cho rằng chính công nghệ 4.0 là một cơ hội phát triển cho các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Cụ thể, công nghệ 4.0 có thể giúp các nhà máy kiểm soát được các trang trại, các vùng chăn nuôi nhỏ lẻ theo một quy trình chăn nuôi thống nhất, đồng thời dễ dàng kiểm soát quy trình nuôi, điều chỉnh việc chăm sóc gia súc, gia cầm qua mạng internet. Người nông dân cũng dễ dàng tương tác với các kỹ sư, các chuyên gia của nhà máy, từ đó việc chăn nuôi sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Tại Việt Nam, một số công ty chế biến, chăn nuôi cũng cho biết sẵn sàng hỗ trợ các nông hộ, trang trại bằng việc triển khai công nghệ 4.0. Bởi nhờ công nghệ này, nhà máy sẽ tạo ra được một vùng chăn nuôi rộng lớn, huy động được nguồn lực toàn xã hội để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy. Theo nhiều nông dân, việc chăn nuôi nhỏ lẻ ngày càng khó tồn tại. Một trang trại nuôi heo cần phải nuôi hàng trăm con, những hộ chăn nuôi bò cũng cần 30 - 50 con trở lên mới hy vọng lấy thu bù chi. Trong hoàn cảnh giá nhân lực ngày càng tăng, nông thôn thiếu lao động do lớp trẻ đi vào thành phố và các nhà máy, ngành chăn nuôi rất cần ứng dụng máy móc vào sản xuất để phát triển đàn gia súc, gia cầm trong hoàn cảnh khan hiếm nhân lực. Theo thông tin từ phía hải quan, giá một kg thịt heo hơi tại Tây Ban Nha khoảng 27.000 đồng, Hà Lan là 29.000 đồng, Hungary là 31.000 đồng, trong khi thịt heo xuất khẩu của Việt Nam khoảng 45.000 đồng. Việc giảm giá thành nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật là xu thế bắt buộc nếu muốn sản phẩm chăn nuôi Việt Nam có chỗ đứng trên thị trường. Gắn với chăn nuôi Nếu như công nghệ 4.0 được xem như ưu việt trong việc quản lý, kết nối liên ngành, liên vùng, liên quốc gia, tạo ra môi trường quản lý, điều hành và sản xuất tiêu thụ thống nhất thì công nghệ trí tuệ nhân tạo được xem là đột phá trong việc ứng dụng các thành tựu khoa học đến tận các nông hộ, các trang trại. Việc chăn nuôi bò sữa ở Tây Ninh, với những con bò được đeo chip điện tử ở cổ để giúp nhà máy thu thập thông tin về các chỉ số hoạt động, tình trạng sức khỏe và năng suất cho sữa của từng con là một điển hình về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chăn nuôi. Công ty Vinamilk cho rằng, trí tuệ nhân tạo như các phần mềm quản lý về dinh dưỡng, quản lý sức khỏe bò, bê cùng việc lưu trữ, phân tích và truy cập thông tin luôn dễ dàng, thuận tiện giúp cho chất lượng chăm sóc đàn bò nâng cao nhanh chóng, chất lượng sữa được cải thiện nhiều. Trung Quốc những năm gần đây đã sử dụng trí tuệ nhân tạo trong chăn nuôi, trước đó các công ty Mỹ cũng đầu tư mạnh việc đưa trí tuệ nhân tạo vào ngành chăn nuôi. Năm 2017, Ấn Độ cũng đã ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào nông nghiệp do Microsoft tài trợ. Với một chiếc điện thoại, người nuôi có thể nhận được lịch làm việc hàng ngày của họ, những thông tin về nuôi và cả thị trường. Nỗ lực của Việt Nam Vừa qua, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Cơ giới hóa nông nghiệp và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giám sát, điều khiển quá trình sản xuất nông nghiệp”. Nghiên cứu được trình bày tại hội thảo cho thấy các nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam cũng đang tiếp cận với các thành tựu quốc tế về trí tuệ nhân tạo trong nông nghiệp. Việt Nam, Malaysia, Singapore được xem là các nước Đông Nam Á quan tâm đến trí tuệ nhân tạo trong nông nghiệp và Thái Lan cũng có tham vọng trong lĩnh vực này. Điển hình nhất của sử dụng trí tuệ nhân tạo đó là sử dụng robot trong việc chăm sóc, cho ăn, vệ sinh chuồng trại, giúp cho việc chăn nuôi trên quy mô lớn nhưng hạn chế được dịch bệnh và tăng năng suất, giảm giá thành. Trước tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi nói chung như hiện nay, việc ứng dụng khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo càng có vai trò quan trọng, giúp nâng cao năng suất, chất lượng, hạn chế dịch bệnh của vật nuôi. Hay như tình hình ASF vẫn tràn lan tại các tỉnh, thành thì việc ứng dụng khoa học công nghệ trong chăn nuôi, thực hiện chăn nuôi an toàn sinh học đúng quy trình, đẩy mạnh nghiên cứu sản xuất vaccine phòng bệnh vẫn đang đem lại hy vọng tích cực cho ngành. Việt Nam là đất nước có ngành tin học, ngành sản xuất robot khá thành công, lớp trẻ rất yêu thích lĩnh vực phát triển trí tuệ nhân tạo. Song để trí tuệ nhân tạo và công nghệ 4.0 đi vào đời sống, cần phải có một chủ trương và chính sách để biến các phát minh từ trong các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu trở thành những sản phẩm robot, những máy móc thiết bị và các phần mềm phục vụ cho lĩnh vực chăn nuôi nói riêng và ngành nông nghiệp nói chung. Nguồn: Nguoichannuoi

Đọc tiếp
Thành lập Hợp tác xã bò sữa Bến Tre 18-07-2019

Thành lập Hợp tác xã bò sữa Bến Tre

Ngày 21/6/2019, Ban Quản lý Dự án phát triển đàn bò sữa Bến Tre tổ chức Hội nghị thành lập Hợp tác xã bò sữa Bến Tre, nhiệm kỳ 2019 - 2024. Ông Đoàn Văn Đảnh - Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh, Giám đốc Ban Quản lý Dự án phát triển đàn bò sữa Bến Tre; ông Phan Chánh Thi - Chủ tịch Liên minh hợp tác xã tỉnh Bến Tre đến dự. Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: Trần Xiện) Dự án phát triển đàn bò sữa tỉnh Bến Tre giai đoạn 2015 - 2019 bắt đầu khởi động từ giữa năm 2015. Mục tiêu của dự án là đầu tư phát triển đàn bò sữa trên địa bàn huyện Ba Tri với quy mô hơn 7.340 con, nhằm nâng cao thu nhập, tiến đến ổn định sinh kế bền vững, cải thiện cuộc sống của người chăn nuôi, góp phần thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp của tỉnh. Tổng đàn bò sữa tính đến cuối tháng 5/2019 là 1.955 con, trong đó có 480 con đã và đang khai thác sữa, sản lượng sữa sản xuất 4.800kg/ngày. Dự kiến trong 3 năm tới đàn bò sữa tăng 3.000 đến 4.000 con bò sữa, sản lượng sữa bình quân 20 tấn/ngày. Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát ra mắt và hạ quyết tâm trước hội nghị. (Ảnh: Trần Xiện) Hợp tác xã bò sữa Bến Tre thành lập bước đầu có 105 thành viên tham gia. Hội đồng quản trị của hợp tác xã có 3 thành viên, bà Trần Thị Tuyết Anh được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, kiêm Giám đốc đơn vị. Hợp tác xã hoạt động với các ngành nghề như chăn nuôi trâu, bò và sản xuất giống trâu, bò; hoạt động dịch vụ chăn nuôi; hoạt động thú y; chế biến sữa và các hoạt động từ sữa; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản; buôn bán nông, lâm sản nguyên liệu; đại lý, môi giới, đấu giá hàng hóa. Hợp tác xã được thành lập nhằm mục tiêu hợp tác tạo sức mạnh về vốn, nhân lực, ứng dụng khoa học công nghệ vào trong sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm; sử dụng chung nhãn hiệu hàng hóa để đủ điều kiện đưa sản phẩm ra thị trường trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế; giữ gìn và phát triển thương hiệu bò sữa Ba Tri, sản phẩm sữa sạch, an toàn; phát triển sản xuất tạo thêm thu nhập và việc làm cho thành viên. Ông Đoàn Văn Đảnh phát biểu chúc mừng hợp tác xã. (Ảnh: Trần Xiện) Phát biểu tại hội nghị, ông Đoàn Văn Đảnh - Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Bến Tre, Giám đốc Ban Quản lý Dự án phát triển đàn bò sữa Bến Tre yêu cầu các thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát phải thể hiện hết tâm quyết của mình trong công việc để đưa hoạt động của hợp tác xã mang lại hiệu quả cao, đồng thời tạo nền tảng để tiếp nhận nguồn của dự án sau này. Nguồn: bentre.gov.vn

Đọc tiếp
Chuỗi liên kết trong chăn nuôi gia súc ăn cỏ 13-07-2019

Chuỗi liên kết trong chăn nuôi gia súc ăn cỏ

Tổ chức sản xuất chăn nuôi theo chuỗi giá trị là hình thức tổ chức sản xuất đang được khuyến khích hiện nay trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Hình thức này đảm bảo cho các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị sản xuất có thể chia sẻ được quyền lợi và trách nhiệm với nhau, đảm bảo cho việc điều tiết cung cầu thị trường và truy xuất được nguồn gốc, kiểm soát an toàn thực phẩm chăn nuôi. Chăn nuôi bò sữa Do đặc thù của mô hình sản xuất chăn nuôi bò sữa, 100% hộ, cơ sở chăn nuôi tham gia liên kết từ sản xuất, thu mua, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm sữa. Hiện nay, sữa tươi nguyên liệu được thu gom thông qua một số hình thức sau: Doanh nghiệp (DN) chế biến sữa ký hợp đồng thu mua sữa tươi nguyên liệu với các hộ nông dân theo tiêu chuẩn do doanh nghiệp quy định . Giá thu mua sữa được tính theo chất lượng sữa tươi nguyên liệu. DN chế biến sữa ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm và hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu, tập huấn, hỗ trợ tín dụng, xây dựng mạng lưới (trạm) thu mua sữa (các tank lạnh, ô tô chuyên dụng, thiết bị kiểm tra chất lượng sữa nguyên liệu…). Hai hình thức liên kết trên đang được áp dụng phổ biến trong khu vực chăn nuôi bò sữa, điển hình là mô hình liên kết của công ty Vinamilk, Công ty cô gái Hà Lan, Công ty sữa Quốc tế… Ảnh: sggp.org.vn DN ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm và dịch vụ kỹ thuật đầu vào cho người chăn nuôi, bao gồm: thức ăn, thú y, con giống, tinh và dịch vụ kỹ thuật khác chăn nuôi khác khuyến khích nâng cao năng suất, chất lượng đàn bò của cả công ty mẹ và các hộ chăn nuôi vệ tinh. Điển hình của liên kết này là Công ty Cổ phần giống bò sữa Mộc Châu đang rất thành công, đã biến những người nông dân chăn nuôi bò sữa thành các công nhân kỹ thuật chuyên nghiệp với kinh nghiệm và kiến thức chăn nuôi bò sữa ngày càng chuyên nghiệp. Đặc biệt, để đảm bảo chăn nuôi phát triển bền vững, từ năm 2001 đến nay công ty đã triển khai, thực hiện, duy trì quỹ Bảo hiểm vật nuôi, Bảo hiểm giá sữa nhắm giúp cho các hộ không may rủi ro, bò bê chết thải… có điều kiện giảm bớt khó khăn, nhanh chóng phục hồi chăn nuôi. Ban điều hành quỹ này do các hộ bầu ra thông qua Đại hội quỹ Bảo hiểm vật nuôi và xây dựng hoạt động của quỹ, đăng ký hàng năm và có tính kế thừa, liên tục qua các năm. Do vậy 100% số hộ và 100% bò bê được tham gia quỹ. Hợp đồng quỹ bảo hiểm bật nuôi được đăng ký hàng năm. Trong hợp đồng thể hiện rõ số lượng bò bê từng loại tham gia quỹ. Hợp đồng quỹ bảo hiểm vật nuôi được ký hàng năm. Trong hợp đồng thể hiện rõ số lượng bò bê từng đàn loại tham gia quỹ (Bò cái sinh sản, bò tơ và bê cái), mức phí tham gia và mức bồi thường đối với từng đàn loại, những quy định cụ thể về những trường hợp được chi trả hoặc từ chối chi trả bảo hiểm. Chăn nuôi bò sữa theo chuỗi liên kết tại Công ty Cổ phần giống bò sữa Mộc Châu DN đầu tư sản xuất sữa theo chuỗi khép kín (từ chăn nuôi bò sữa, chế biến và tiêu thụ sữa) như: Công ty TH True Milk. DN tổ chức chăn nuôi bò sữa và ký hợp đồng bán sữa cho một DN khác c huyên về chế biến sữa như mô hình liên kết của Công ty Hoàng Anh Gia Lai với Công ty Nutifood, Công ty Furture Milk liên kết với Vinamilk để bán sữa tươi nguyên liệu từ đàn bò trên 1.500 con. Một số địa phương có chăn nuôi bò sữa phát triển cũng đã tổ chức sản xuất sữa theo chuỗi liên kết. Tại Hà Nội đã xây dựng chuỗi liên kết chăn nuôi tiêu thụ sản phẩm sữa IDP thực hiện bởi công ty Cổ phần Sữa quốc tế. Hiện nay có khoảng 3000 hộ chăn nuôi được Công ty Cổ phần sữa quốc tế tiêu thụ. Việc hình thành chuỗi liên kết đã giúp các Công ty sản xuất sữa trên địa bàn Hà Nội có vùng nguyên liệu ổn định và người nuôi bò sữa trên địa bàn thành phố đảm bảo hiệu quả chăn nuôi cũng như yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất. Tại TP Hồ Chí Minh, liên kết chuỗi giá trị trong chăn nuôi bò sữa được hình thành thông qua các HTX chăn nuôi bò sữa như: HTX Tân Thông Hội – chuyện Củ Chi; HTX Chăn nuôi bò sữa Thành Công – huyện Củ Chi; HTX nông nghiệp Hòa Lộc; HTX Chăn nuôi Tiến Thành… Các HTX này thành lập trên cơ sở tiêu thụ sữa của các hộ chăn nuôi bò sữa. Các HTX vừa chăn nuôi bò sữa, vừa thực hiện các dịch vụ chăn nuôi và thu mua trung chuyển sữa bò tươi cho các hộ chăn nuôi bò sữa. Mô hình liên kết chăn nuôi bò sữa theo chuỗi của Công ty Vinamilk: hiện có 12 trại bò sữa quy mô lớn và hiện đại ở Tuyên Quang, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Lâm Đồng, Hà Tĩnh, Thanh Hóa và Tây Ninh (miền Bắc 01 trại, miền Trung 10 trại, miền Nam 1 trại) và 01 trại ở Xiêng Khoảng của Lào. Tổng đàn bò cung cấp sữa cho Vinamilk bao gồm các trang trại của Vinamilk, các doanh nghiệp liên kết và bà con nong dân có hợp đồng bán sữa cho Vinamilk là trên 12.000 con bò, mỗi ngày cung cấp trên 750 tấn sữa tươi nguyên liệu. Tại Thanh Hóa đã hình thành liên kết sản xuất theo chuỗi đối với bò sữa là chăn nuôi bò sữa – chế biến sữa. Đây là liên kết trang trại giữa trại chăn nuôi bò sữa tại Sao Vàng, tỉnh Thanh Hóa và nhà máy chế biến sữa tại KCN Lễ Môn (TP Thanh Hóa). Liên kết theo chuỗi thể hiện doanh nghiệp chủ động (con giống, kỹ thuật, quản lý, đất đai…) đến sản xuất, thu gom sữa, vận chuyển, chế biến và tiêu thụ. Hình thức tiêu thụ sản phẩm là bán sữa theo hệ thống của Vinamilk. Tại Cần Thơ và Sóc Trăng cũng hình thành liên kết chuỗi giá trị chăn nuôi bò sữa thông qua HTX bò sữa Long Hòa liên kết với Vinamilk – nhà máy sữa Cần Thơ. Hình thức hoạt động là HTX ký hợp đồng với Vinamilk mua 70% sữa cho bà con, số còn lại tự tiêu thụ hoặc chế biến các sản phẩm bán cho thị trường. Tại Sóc Trăng, HTX chăn nuôi bò sữa Evergrowth là đầu mối thu mua sữa, cung cấp dịch vụ đầu vào cho trên 18000 xã viên với tổng đàn 5000 con. HTX dựa trên các xã viên và tổ hợp tác của địa phương chăn nuôi bò sữa, HTX hỗ trợ kỹ thuật, dịch vụ và ký kết hợp đồng thu mua. Chăn nuôi bò thịt Hiện tại, mô hình liên kết chăn nuôi bò thịt còn hạn chế. Hầu hết bò thịt được bán cho thương lái khi đến tuổi giết thịt. Do vậy, giá cả các sản phẩm này bấp bênh và phụ thuộc nhiều vào tình hình dịch bệnh, thị trường. Chăn nuôi hươu sao Bước đầu hình thành một số chuỗi liên kết sản xuất trong chăn nuôi hươu sao. Theo báo cáo của của Sở NN&PTNT Hà Tĩnh năm 2018 huyện Hương Sơn đã hình thành 20 đại lý đầu mối thu mua nhung hươu với mức thu mua 50kg trở lên. Trong đó có 10 đại lý thu mua từ 0,2-1 tấn/năm. Riêng Công ty Cổ phần Dược Hà Tĩnh mua 1 tấn nhung hươu của các hộ để chế biến hàng năm. Công ty Sơn An đã tiêu thụ 5 tạ nhung hươu/năm và quảng bá sản phẩm sang thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc mở ra cơ hội tiêu thụ sẩn phẩm từ hươu sao. Chuỗi giá trị liên kết chăn nuôi dê, cừu thịt Chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ dê, cừu của cơ sở Triệu Tín ở Ninh Thuận liên kết với 40 hộ nuôi, nhưng chỉ đầu tư 50% con giống, không đầu tư thức ăn. Sau thời gian nuôi 5-6 tháng sẽ thu mua lại bằng giá thị trường và tính lãi suất giá trị đầu tư. Cơ sở Triệu Tín kết hợp với Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh sản xuất các các sản phẩm từ dê, cừu như: thịt dê ép dẻo, dê sấy, thịt cừu xông khói, thịt cừu khô tẩm gia vị, cừu sấy dẻo, cừu chà bông… Đầu ra doanh nghiệp là giết mổ tại lò, sản phẩm thịt tươi bán cho nhà hàng quán ăn, siêu thị trong và ngoài tỉnh. Đối với dê, cừu sống xuất ra các tỉnh Ninh Bình, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng… Ngoài ra chuỗi giá trị này còn có 03 chủ cơ sở giết mổ dê cừu như: cơ sở giết mổ Bích Huyền ở TP Phan Rang – Tháp Chàm liên kết với trên 100 hộ chăn nuôi và 5 thương lái. Các chủ cơ sở giết mổ liên kết với hộ nuôi và thương lái để có nguồn hàng đáp ứng nhu cầu cung cấp cho cơ sở. Trong chuỗi giá trị này, chủ cơ sở giết mổ, thương lái sẽ cung cấp cừu giống ban đầu cho mỗi hộ từ 10-30 con với trọng lượng từ 10-15kg/con theo giá trị trường và sẽ tính lãi 2-3%/tháng. Sau thời gian nuôi từ 4-5 tháng, thương lái, chủ cơ sở giết mổ sẽ thu mua lại của người chăn nuôi khi xuất bán theo giá trị trường và thanh toán tiên sau khi trừ cả vốn lẫn lãi. Người chăn nuôi lãi từ 0,5-0,6 triệu đồng/con. Chuỗi liên kết chăn nuôi thỏ Năm 2012, Tập đoàn Nippon Zoki Nhật Bản đã quyết định đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất nguyên liệu thuốc với công suất từ 1-5 triệu thỏ Newzealeand/năm tại KCN Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Ngày 07/6/2013 nhà máy được khởi công xây dựng và được khánh thành vào ngày 16/1/2015 với số vốn thực tế là hơn 60 triệu USD. Để phát triển đàn thỏ cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thuốc cung cấp cho nhà máy trên, Công ty TNHH Nippon Zoki Việt Nam đã tiến hành xây dựng cơ sở vật chất, nhân đàn thỏ trắng New Zealand. Trong các năm từ 2014 đến nay, Công ty đã sản xuất trên 30.000 con giống trong chuỗi sản xuất giống. Để quản lý đàn thỏ của các hộ, các vùng, công ty đã áp dụng hệ thống quản lý số tai 6 được bấm lên tai từng thỏ mẹ tại các hộ gia đình và thỏ con để truy xuất nguồn gốc cũng như đảm bảo thu mua số lượng đúng như cam kết giữa hai bên. Đặc điểm của các hộ chăn nuôi thỏ ở Việt Nam hiện nay phần lớn vẫn là quy mô nông hộ, nằm rải rác trên các xã thuộc địa bàn huyện, vì vậy sẽ rất khó khăn nếu Công ty đến từng hộ để thu mua, cung cấp cám và chi trả tiền thỏ. Để giải quyết vấn đề này, tại mỗi vùng, Công ty đã yêu cầu các hộ thành lập một HTX để làm đầu mối ký kết Hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Và mọi liên lạc, thu mua, phân phối cám và chi trả tiền thỏ đều thông qua HTX. Nhờ hệ thống thu mua và thanh toán này đã cắt đi khâu thương lái trung gian góp phần tối ưu hóa lợi nhuận của người chăn nuôi trực tiếp. Hơn nữa, do thỏ được quản lý bằng việc bấm số tai 6 số từ bé tại các hộ trong HTX và Công ty chỉ thu mua những thỏ đạt trưởng thành đạt tiêu chuẩn có mã số tai 6 số theo quy định nên sẽ không xảy ra tình trạng các hộ chăn nuôi tự phát không có hợp đồng đưa thỏ vào sẽ gây tình trạng cung vượt quá cầu như các sản phẩm nông nghiệp khác. Nguồn: nhachannuoi

Đọc tiếp
Cơ hội cho gà Việt “bứt phá”? 13-07-2019

Cơ hội cho gà Việt “bứt phá”?

Trong những năm qua, ngành chăn nuôi gà ở nước ta đã có những bước phát triển nhảy vọt. Tại nhiều nơi, nuôi gà đã góp phần xóa đói, giảm nghèo và trở thành một trong những nghề sản xuất chính. Trong bối cảnh Dịch tả heo châu Phi khiến chăn nuôi heo thiệt hại nặng nề, chưa từng thấy, phải chăng đây là cơ hội để con gà Việt bứt phá nếu giải quyết được vấn đề căn cơ!? Con gà giữ “đà” tăng trưởng! Theo Cục chăn nuôi, trong 3 năm (2016, 2017, 2018) đàn gà nước ta tăng trưởng 6,93%, trong đó gà thịt tăng 7,24%, gà đẻ tăng 5,88%. Năm 2018, nước ta có 317 triệu con gà, chiếm 77,5% tổng đàn gia cầm. Trong tổng đàn gà thì gà thịt chiếm 77,6%, còn gà đẻ chiếm 22,4%. Năm 2018, thịt gia cầm chiếm 19% so với tổng sản lượng thịt các loại đạt 1,1 triệu tấn trong đó, thịt gà tăng trưởng bình quân 6,46%, chiếm 840 ngàn tấn (76,5%), trong đó, gà nuôi công nghiệp tăng trưởng bình quân là cao nhất 8,89%. Trứng gà có tốc độ tăng trưởng bình quân là 13,3%, trong đó trứng gà công nghiệp tăng 12,53%, trứng gà khác tăng 14,69%. Năm 2018, Việt Nam có trên 11,6 tỷ quả trứng, trứng gà chiếm 60%, trong đó trứng gà công nghiệp chiếm 63,8% tổng trứng gà. Theo Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm Việt Nam, hiện nay trên cả nước có 1.373 cơ sở nuôi gà giống với tổng số mái ông bà, bố mẹ là 3.985 ngàn con, trong đó, khoảng 123 ngàn con ông bà (chiếm 3,1%) và 3.862 ngàn con bố mẹ (chiếm 96,9%). Các doanh nghiệp FDI nuôi giữ khoảng 1.500 con mái sinh sản (chiếm 37,6% tổng đàn gà giống trong nước), chủ yếu là gà giống bố mẹ nhập khẩu từ nước ngoài. Nguồn số liệu: Cục Chăn nuôi; Xử lí và Đồ họa: T. Ngân Thời cơ nâng tầm gà Việt Theo TS Đoàn Xuân Trúc, Phó Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam, thời gian tới ngành chăn nuôi gà vẫn tiếp tục phát triển, trong đó các giống gà địa phương và gà lai với phương thức chăn nuôi bán chăn thả, chăn thả vẫn tiếp tục phát huy như là một lợi thế tiềm năng ở nhiều địa phương, nhiều vùng ở nước ta và đáp ứng thói quen tiêu dùng truyền thống các sản phẩm gia cầm tươi, đậm đà. Đây đang là rào cản tự nhiên hạn chế việc nhập khẩu thịt gà công nghiệp đông lạnh… Việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến trong công tác giống, dinh dưỡng và thú y ngày càng được người chăn nuôi quan tâm và sẽ là đòn bẩy để nâng cao năng suất chăn nuôi gà. Các mô hình sản xuất theo chuỗi liên kết đang phát triển và sẽ là yếu tố quan trọng để tăng hiệu quả và phát triển ngành bền vững. Đa số các trang trại nuôi gà công nghiệp lông trắng được nuôi ở các trang trại đầu tư công nghệ cao, áp dụng công nghiệp 4.0 ở nhiều khâu, sản xuất theo chuỗi liên kết khép kín, đảm bảo an toàn dịch bênh, giá thành cạnh tranh, tạo cơ hội lớn cho xuất khẩu. Do các lợi thế của chăn nuôi gà như: tạo sản phẩn ngon, bổ, rẻ, mức độ an toàn cao; nhu cầu sử dụng nước ngọt không cao, phát thải khí nhà kính ít, gây ô nhiễm môi trường thấp nên đang được các doanh nghiệp lớn quan tâm đầu tư trong Chương trình phát triển chăn nuôi bền vững. Chiến lược phát triển chăn nuôi gia cầm tới năm 2020, 2025, tầm nhìn đến năm 2030 đang là cơ hội rất lớn để phát triển nhanh và bền vững ngành gà. Cũng theo nhiều chuyên gia, khi bệnh Dịch tả heo châu Phi (ASF) đã gây thiệt hại nặng nề với ngành chăn nuôi heo và chưa có dấu hiệu dừng lại; ASF chưa có vắc xin, chưa có thuốc chữa, đối với những hộ nuôi heo không đảm bảo được an toàn sinh học, họ chọn giải pháp an toàn là chuyển sang nuôi gà. Chưa bao giờ, làn sóng người chăn nuôi và doanh nghiệp chuyển sang nuôi gà mạnh mẽ như vậy. Cùng với đó, tâm lí e ngại thịt heo trong người tiêu dùng, cơ cấu mâm cơm của người Việt chuyến biến, từ 70% cho thịt heo, chuyển sang thịt gà và các loại thịt khác. Tỷ lệ vàng về các sản phẩm chăn nuôi tại các quốc gia phát triển là heo chiếm khoảng 40%, gia cầm 40% và 20% là các sản phẩm khác, thì đây chính là cơ hội bứt phá cho con gà Việt, để con gà “bay xa”. Tự hoàn thiện những điểm yếu! Tuy nhiên, để “bay xa” được thì ngành chăn nuôi gà phải tự hoàn thiện những điểm yếu căn bản như sau: giá thành sản phẩm còn cao, sức cạnh tranh yếu; đôi khi còn mất cân đối cung – cầu; dịch bệnh luôn đe dọa; hạn chế trong liên kết sản xuất; công nghệ chế biến còn kém phát triển. Giá thành sản phẩm ngành chăn nuôi gà Việt còn cao, sức cạnh tranh yếu do chi phí cho (thức ăn, con giống, thuốc thú y) cao và có chiều hướng tăng. Cụ thể, 1,8-2,2 kg thức ăn/kg tăng trọng đối với gà nuôi công nghiệp, trang trại; từ 2,3-2,5 kg thức ăn/kg tăng trọng ở chăn nuôi hộ, thậm chí trên 3 kg thức ăn/kg tăng trọng. (Cục Chăn nuôi). So với các nước trong khu vực thì giá thức ăn nước ta cao hơn 10-15% do phụ thuộc chủ yếu vào nhập khẩu. Hằng năm, nước ta phải nhập tới 90% nguyên liệu TACN giàu đạm như khô dầu đậu tương, bột thịt, xương, bột cá; riêng khoáng vi lượng, vitamin nhập 100%, gần 80% vắc xin được phép lưu hành tại Việt Nam có nguồn gốc nhập khẩu từ 17 quốc gia trên thế giới. Cùng với đó, dù đã có một số mô hình doanh nghiệp sản xuất gà quy mô lớn, công nghệ hiện đại, chuyên nghiệp, song nhìn chung sản phẩm gà của nước ta vẫn có sức cạnh tranh thấp, do phần lớn là quy mô nhỏ. Theo báo cáo của Sở NN&PTNT các tỉnh, chăn nuôi gia cầm nông hộ chiếm 47-49% sản lượng thịt và 26-28% sản lượng trứng cả nước. Ở nước ta, giá các sản phẩm thịt, trứng gà tương đối bấp bênh, sản xuất còn thiếu ổn định về cung – cầu . khi giá bán trên thị trường cao thì nhiều người nuôi dẫn đến dư thừa, cung lớn hơn cầu dẫn đến mất giá, thua lỗ, rồi lại bỏ chuồng. Điều này một phần do công tác thông tin thị trường, dự báo còn rất hạn chế, cho nên luôn bị động trong sản xuất.Việc thống kê trong chăn nuôi còn thiếu chính xác, chưa phù hợp với thực tế. Các khâu trong sản xuất còn thiếu tính liên kết, chưa gắn sản xuất với giết mổ, chế biến với thị trường, chưa có chiến lược giết mổ chế biến và dự trữ một số sản phẩm chủ lực như thịt nên khó cân đối cung cầu, không thể tạo sự ổn định tương đối gía cả thị trường, dễ gây ảnh hưởng tới sản xuất và gây thua thiệt cho người chăn nuôi. Việc tiêu thụ sản phẩm phải qua nhiều khâu trung gian đẩy giá bán sản phẩm lên cao, mặt khác người sản xuất còn bị tư thương ép giá bán. Rào cản khiến cho ngành gia cầm nước ta ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gà nói riêng chưa thể xuất khẩu được nhiều là dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm và ô nhiễm môi trường. Đây là thách thức lớn mà trong ngắn hạn nước ta chưa khắc phục và kiểm soát được. Dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở nước ta từ năm 2003 nhưng đến nay vẫn chưa được khắc phục triệt để. Theo số liệu của cơ quan chức năng, nước ta mới có 50 vùng (cấp huyện) và 1.092 cơ sở được công nhận an toàn dịch bệnh. Đây là những con số quá thấp so với yêu cầu đặt ra. Tình trạng chất cấm, lạm dụng kháng sinh vẫn còn tồn tại.. Khi nước ta tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do, ngành gà nước ta phải cạnh tranh ngay trong thị trường nội địa, với các sản phẩm nhập khẩu giá rẻ hơn. Thịt gà nhập từ các nước như Canada, Mehico, Malaysia có nguy cơ gia tăng khi thuế nhập khẩu giảm xuống 0% theo lộ trình của CPTPP. Trong ngắn hạn, người Việt Nam vẫn có thói quen tiêu dùng thịt gà tươi, thịt gà lông nên tác động với sản phẩm CPTPP có thể chậm lại. Tuy nhiên, khi thịt gà đông lạnh được người tiêu dùng chấp nhận rộng rãi, thì sản xuất trong nước sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu từ các nước trong CPTPP. Hậu quả là tăng trưởng thịt gà sẽ chậm lại trong những năm sắp tới. Để đẩy mạnh xuất khẩu, ngành gà nước ta phải đối mặt với các thách thức về hàng rào kỹ thuật của các nước nhập khẩu. Các thị trường của khối CPTPP có hàng rào kỹ thuật khắt khe đối với sản phẩm nhập khẩu từ các nước khác như : Nhật Bản, Úc, Newzealand, Chi lê, Xin ga po…Nếu không vượt qua được thì sản phẩm thịt, trứng gà khó bay xa dù thuế suất bằng 0%. Nguồn: nhachannuoi

Đọc tiếp
popup

Số lượng:

Tổng tiền: