Chất lượng của chế phẩm Probiotic sử dụng trong chăn nuôi 07-11-2019

Chất lượng của chế phẩm Probiotic sử dụng trong chăn nuôi

Bổ sung các lợi khuẩn còn sống vào thức ăn, nước uống đã mang lại những lợi ích to lớn cho cơ thể cũng như môi trường. Nhiều nhóm nhà khoa học đã tiếp cận nghiên cứu và phát triển sản phẩm gồm các nhóm lợi khuẩn này, đó là chế phẩm probiotic. Chế phẩm probiotic chứa đơn hoặc hỗn hợp các chủng vi sinh vật sống (vi khuẩn hay vi nấm) khi đưa vào cơ thể có ảnh hưởng có lợi cho vật chủ bởi việc cải thiện đặc điểm của hệ vi sinh vật đường ruột (Asml A và cs., 2015) . Theo định nghĩa của Tổ chức Lương Nông Thế giới (FAO ) hay Tổ chức Y tế Thế giới (WHO ), probiotic là những vi sinh vật còn sống khi đưa vào cơ thể một lượng đầy đủ sẽ có lợi cho sức khỏe của con vật chủ . Probiotic đã trở thành phụ gia quen thuộc trong ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi ở trên Thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng Chính vì vậy, gần đây probiotic đã trở thành phụ gia quen thuộc trong ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi ở trên Thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng. Theo Mavromichalis (2014), tuy dưới tên chung là probiotic, nhưng có rất nhiều chế phẩm khác nhau, không chỉ khác nhau về giá mà còn rất khác nhau về hiệu quả. Trên thị trường có rất nhiều chế phẩm probiotic có nguồn gốc khác nhau, nhiều chế phẩm nhập khẩu và nhiều chế phẩm đã được nghiên cứu và sản xuất bởi các cơ sở trong nước. Qua thử nghiệm thực tiễn cho thấy nhiều chế phẩm có hiệu quả tốt đối với động vật nuôi. Đặc biệt trên gia súc, gia cầm non khi hệ miễn dịch chưa hoàn thiện, probiotic có cơ hội phát huy tác dụng. Tuy nhiên, cùng một chế phẩm có thể có hiệu quả ở cơ sở này nhưng không có hiệu quả hoặc ảnh hưởng không rõ ở cơ sở khác Có nhiều lý do để giải thích sự khác biệt đó, chẳng hạn khả năng kháng nhiệt, khả năng chống chịu các tác động của dịch tiêu hóa như pH, dịch mật, dịch tụy, đặc biệt do sự khác nhau về hệ sinh thái vi sinh ở mỗi cơ sở chăn nuôi. Như vậy, probiotic không thể coi là phụ gia thêm vào khẩu phần (add-on additives), mà phải coi là một phần của toàn bộ khẩu phần. Và để đảm bảo tính hiệu quả của probiotic sử dụng như một phụ gia TĂCN thì chất lượng của chế phẩm probiotic phải được tiêu chuẩn hóa. 1. Một số loài vi sinh vật được sử dụng trong sản phẩm probiotic Một số vi sinh vật được coi là probiotic gồm nấm sợi, nấm men, vi khuẩn và hỗn hợp các chủng vi sinh vật khác nhau. Trong đó vi khuẩn là phổ biến hơn cả. Các loài vi khuẩn gần đây đang được sử dụng làm probiotic rất nhiều và đa dạng. Các nhóm vi khuẩn chính như Bacteroides, Clostridium, Bifidobacterium, Eubacterium, Lactobacillus, Enterobacteriaceae, Streptococcus, Fusobacterium, Peptostreptococcus và Propionibacterium được sử dụng ở động vật dạ dày đơn (như lợn, gà, thỏ và người). Ở động vật dạ dày kép (như trâu bò, dê, cừu) quan trọng nhất là các vi sinh vật phân giải xơ thuộc nhóm Fibrobacter, Ruminococcus, Butyrivibrio và Bacteroides cùng với các nhóm lớn như Prevotella, Selenomonas, Streptococcus, Lactobacillus và Megasphaera . Cần lưu ý rằng, dạ cỏ vẫn duy trì một số loại nấm sợi kỵ khí, tảo, protozoas và một số lượng lớn các methanogens để giữ môi trường vi mô của dạ cỏ bình thường (Boomker, 2000). Bảng 1. Một số vi sinh vật được sử dụng như probiotic trong chăn nuôi Vi sinh vật Vai trò Lợn E. faecalis E. faecium Bacillus cereus B. subtilis B. licheniformis L. johnsonii L. reuteri L. acidophilus S. cerevisiae Cải thiện chất lượng sữa non, chất lượng và số lượng sữa Tăng kích thước và khả năng sống của con vật Tăng trọng lượng lợn con Giảm nguy cơ mắc tiêu chảy Cải thiện chuyển hóa thức ăn, khả năng tiêu hóa và chất lượng thịt Hạn chế táo bón Giảm stress Gia cầm L. animalis L. fermentum L. salivarius L. acidophilus S. faecium L. reuteri E. faecium S. cerevisiae Bacillussp Tăng trọng lượng của cơ thể Giảm tỷ lệ chết Tăng chất lượng phân, giảm ô nhiễm Tăng chất lượng của xương Động vật nhai lại S. cerevisiae L. acidophilus B. pseudolongum L. animalis L. paracasei Kích thích tăng trưởng và tối ưu các vi sinh vật dạ cỏ hạn chế acidosis Tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, sản lượng sữa, chất lượng và an toàn tiêu hóa ở lúc cai sữa Giảm nguy cơ xâm chiếm của mầm bệnh và hạn chế sự phát tán mầm bệnh của người Ngựa Lactobacillus pentosus pentosus L. rhamnosus L. acidophilus L. plantarum L. casei S. boulardii S. cerevisiae Cải thiện khả năng tiêu hóa, chất lượng và ssanr lượng sữa Hạn chế tiêu chảy Tránh những rối loạn sau chấn thương Hạn chế stress (Nguồn Asml A và cs., 2015 ) 2. Các tiêu chuẩn chất lượng của chế phẩm probiotic Theo Closer (2006) tính hiệu quả của một chế phẩm probiotic cần được xem xét ở ba nhóm tiêu chuẩn sau: (i) tính an toàn (chủng vi sinh có nguồn gốc rõ ràng, có lịch sử an toàn và không kháng kháng sinh); (ii) công nghệ (lên men ổn định, bền khi bảo quản) và (iii) chức năng (chịu được dịch dạ dày, kháng acid mật, tính bám dính tốt). Theo B. Kosin và S. K. Rakshit (2006), những tiêu chuẩn dùng để chọn lọc các dòng vi khuẩn probiotic bao gồm: – Tính an toàn: Các chủng vi sinh phải được công nhận an toàn và được xếp vào nhóm GRAS (Generally Recognized As Safe). Các nhóm vi sinh được sử dụng phổ biến trong thức ăn chăn nuôi ở châu Âu gồm: nhóm LAB ( Enterococcus có E. faecium; Lactobacillus c ó L. salivarius, L. reuteri, L. acidophilus, L. farciminis, L. rhamnosus, L. plantarum, L. case, L. bulgaricus; Bifidobacterium có B. animalis và B. bifidum ; Pediococcus acidilactici). Nhóm tạo bào tử gồm Bacillus (B. subtilis, B. licheniformis, B. coagulans, B. amyloliquefaciens, B. cereus var toyoi ) và Clostridium (C. butyricum). Nhóm nấm men Saccharomyces cerevisiae ( Michaela Mohnl, 2014) – Nguồn gốc chủng vi sinh: được phân lập và định danh đến dòng (strain). Các dòng khác nhau trong cùng một loài có thể có ảnh hưởng khác nhau (Bermadeau và Vermoux, 2013). – Kháng với các điều kiện thí nghiệm in vivo và in vitro: Sau khi sử dụng probiotic, vi sinh trong chế phẩm không bị giết bởi cơ chế bảo vệ của vật chủ và kháng lại những điều kiện bất lợi trong đường ruột như pH, dịch mật và dịch tụy. – Khả năng bám dính và khu trú trên biểu mô ruột: phụ thuộc vào chủng vi sinh trong probiotic và điều kiện môi trường ruột (nguyên liệu, pH, mật, muối v.v.) cũng như phụ thuộc vào mối tương tác với hệ vi sinh của con vật chủ. – Hoạt tính kháng vi khuẩn bệnh: v i khuẩn lactic có đặc tính kháng khuẩn do năng lực sản sinh acid lactic làm giảm pH đường ruột, giảm năng lực oxy hóa khử, sản sinh hydrogen peroxide dưới điều kiện hiếu khí, sản sinh các chất ức chế như bacteriocin. Các loài Bacillus cũng có khả năng sản sinh một số lớn kháng khuẩn như bacteriocin, subtilin, coagulin. – Kích thích đáp ứng miễn dịch: kích thích tế bào biểu mô ruột tăng tiết niêm dịch (mucins) để bảo vệ hàng rào biểu mô, kích thích mô lympho gắn với ruột (GALT: Gut Associated Lymphoid Tisues) tăng tiết kháng thể để tiêu diệt vi khuẩn bệnh. – Khả năng bảo toàn mật số (bền nhiệt và sống trong quá trình bảo quản): vi khuẩn trong probiotic phải sống và có nồng độ cao (≥ 10 7 CFU/g chế phẩm) (Shah et.al, 2000). Một số yếu tố hạn chế khả năng sống của vi khuẩn trong probiotic như độ acid, hàm lượng oxy trong chế phẩm, lượng oxy thấm từ bên ngoài vào trong qua lớp vỏ bao gói, độ nhạy cảm của vi khuẩn trong chế phẩm probiotic với chính chất kháng khuẩn do chúng sinh ra… Trong việc kiểm soát những yếu tố đảm bảo khả năng sống cao của vi khuẩn thì quan trọng nhất là việc chọn lọc các chủng đề kháng tốt với acid và dịch mật trong ống tiêu hóa, cũng như với nhiệt độ cao trong dây chuyền chế biến, bảo quản (Shah et. al, 1995). Thông thường các vi khuẩn và nấm men được sử dụng không chịu được nhiệt độ cao khi ép viên. Công nghệ truyền thống là sản xuất probiotic dạng lỏng và bảo quản ở nhiệt độ thấp (4-8 o C), nếu bảo quản ở nhiệt độ thường thì các tế bào vi sinh bị chết rất nhanh. Tuy nhiên, dạng lỏng sẽ gây khó khăn khi vận chuyển và sử dụng.Để khắc phục, hiện nay công nghệ đông khô hoặc sấy chân không ở nhiệt độ thấp để tạo sản phẩm dạng khô. Tuy nhiên, năng suất thu hồi sản phẩm của công nghệ này không cao đã làm tăng giá thành sản phẩm. Nhiều nghiên cứu cho thấy để khắc phục cần chọn những chủng có khả năng chịu nhiệt. Trong ba nhóm vi sinh thường được sử dụng cho việc sản xuất probiotic là vi khuẩn lactic, nấm men Saccharomyces cerevisiae và nha bào Bacillus , thì chỉ có Bacillus ở dạng bảo tử có khả năng chịu nhiệt cao nhất. Chẳng hạn, bào tử Bacillus trong sản phẩm của công ty BioSpring có khả năng chịu nhiệt rất cao (có thể chịu được nhiệt độ tới 235 o C trong 8 phút), cũng như bền trong bảo quản ở nhiệt độ thường (tỷ lệ sống sót 89% sau 12 tuần bảo quản). Khả năng sống sót của các nha bào Bacillus ở 80 o C, 95 o C và 100 o C sau 30 phút luôn đạt mức >10 10 /g sản phẩm. 3. Chu kỳ sống và cơ chế tác động của nha bào vi khuẩn Bacillus Bacillus thường được sử dụng trong sản xuất probiotic gồm: B. subtilis, B. licheniformis, B. coagualans, B. amyloliquefaciens, B. cereus var toyoi có khả năng sinh bảo tử, lớp vỏ bọc chiếm tới 50% thể tích nhờ đó chống chịu được với điều kiện bất lợi như nóng, lạnh, khô hạn, hóa chất, bức xạ… Chu trình sống của bào tử Bacillus trong cơ thể động vật và cơ chế tác động có thể tóm tắt như sơ đồ 1. Bảo tửtheo thức ăn vào dạ dày rồi xuống ruột non, ở đây nảy mầm thành những tế bào sinh dưỡng phát triển theo cách nhân đôi liên tiếp và đi xuống ruột già. Tại ruột già tế bào sinh dưỡng lại tái hình thành bào tử. Tất cả nha bào và tế bào sinh dưỡng có mặt ở ruột non được các tế bào của mô lymphoid gắn với ruột (GALT) tiếp nhận, nhờ gắn kết với tế bào M ở mảng Payer.Trong mảng Payer bảo tử lại nảy mầm thành tế bào sinh dưỡng. Tế bào sinh dưỡng được tế bào M đem đến cho tế bào hình tua (dendritic cells) và đại thực bào (macrophage cells) để trình diện quyết định kháng nguyên kích thích tiết kháng thể sIgA (secreted IgA). Khi vào ruột sIgA tấn công vào các vi khuẩn xâm nhập hay các vi khuẩn bám dính trên biểu mô ruột. Phần bảo tử không bị tiếp nhận vào GALT sẽ thải ra ngoài theo phân và sống cộng sinh với thực vật. Động vật ăn thức ăn thực vật có chứa bào tử và khi vào trong ống tiêu hóa, chu trình trên được lặp lại. Ở điều kiện bình thường, có thể thấy bào tử trong đường tiêu hóa người chứa 10 4 CFU/g chất chứa (Simon Cutting, 2016; Huỳnh A. Hồng và cs, 2005). Trong quá trình bào tử Bacillus nảy mầm thành các tế bào sinh dưỡng, các hoạt chất sinh học như chất kháng khuẩn và enzyme (amylase, protease, cellulase và phytase) được sinh ra. Nhờ sự hoạt động của các enzyme, các chất dinh dưỡng như acid amin, vitamin hay vi khoáng trong thức ăn được giải phóng nhanh hơn, giúp nâng cao năng lực miễn dịch của hệ miễn dịch đường ruột, từ đó cải thiện được thành tích chăn nuôi. 4. Một số định hướng khi sử dụng Trong lộ trình thực hiện chủ trương cấm kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi của Nhà nước, sử dụng probiotic bổ sung vào thức ăn là một trong những giải pháp quan trọng được thế giới chấp nhận. Tuy nhiên, sử dụng probiotic chỉ hiệu quả khi chế phẩm probiotic đạt các tiêu chuẩn về độ an toàn, còn sống với một số lượng đủ lớn khi vào đến ống tiêu hóa của động vật. Như vậy, các vi sinh trong chế phẩm probiotic phải chống chịu được các điều kiện bất lợi trong dây chuyền sản xuất, bảo quản và trong môi trường của ống tiêu hóa, đặc biệt là chống chịu được với nhiệt độ cao. PGS.TS. Phạm Kim Đăng và GS. Vũ Duy Giảng Khoa Chăn nuôi Học viện Nông nghiệp Việt Nam ------------ Nguồn: Báo Nhà chăn nuôi Xem các sản phẩm Probiotics được sản xuất bởi R.E.P Biotech: Click

Đọc tiếp
Mạt sả – kẻ phá hoại thầm lặng của chất lượng TĂCN 05-11-2019

Mạt sả – kẻ phá hoại thầm lặng của chất lượng TĂCN

Mạt sả, tên khoa học là Tyrophagus putrescentiae là một vấn đề phổ biến và nghiêm trọng đối với nhiều nhà máy thức ăn ở các vùng nhiệt đới, đặc biệt là ở vùng Đông Nam Á. Mùa cao điểm phá hoại của mạt thường rơi vào giữa tháng Tư đến tháng Mười Hai hàng năm, dẫn đến việc giảm chất lượng thức ăn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất chăn nuôi. Tại Việt Nam, loại mạt này phát triển và sinh sôi nhanh chóng trong mùa mưa với điều kiện thuận lợi của độ ẩm và nhiệt độ cho phép. 1. Các loại mạt sả thường gặp Loài mạt sả xuất hiện nhiều nhất và được nhận biết nhiều nhất là Acarus siro và Tyrophagus putrescentiae (Kaur và D Breathra, 2018). Nhận biết được mạt sả rất khó khăn vì chúng có kích thước rất nhỏ. Đặc điểm của các loại mạt sả thường gặp được miêu tả trong bảng sau: Trong đó, Acarus siro xuất hiện nhiều ở vùng ôn đới và không sinh trưởng, phát triển trong điều kiện nấm mốc. Tyrophagus putrescentiae xuất hiện nhiều ở vùng nhiệt đới (Việt Nam). Chúng có thể phát triển trong khoảng nhiệt độ từ 11,2 o C đến 36 o C với độ ẩm 80%. Loại mạt sả này hoạt động như một chất mang vi khuẩn và nấm mốc độc tố như Aspergillus spp và Penicillium spp trong hạt nguyên liệu được bảo quản trong điều kiện nóng và ẩm (Van Bronswijk & Sinha, 1973; Franzolin và đồng sự, 1999) 2. Tác hại của mạt sả Khi TĂCN có mùi sả, người chăn nuôi dễ nhận biết rằng thức ăn chăn nuôi bị hư, kém chất lượng, vật nuôi sẽ giảm ăn và cần phải trả về. Tuy nhiên, rất ít người biết nguyên nhân chính là do mạt sả gây ra vì khó nhận thấy mạt sả bằng mắt thường . Mạt sả tấn công vào các loại nguyên liệu khác nhau như cám gạo, cám mì, dừa và các loại nguyên liệu khác có thành phần chất béo và protein cao. Ngoài các rủi ro về xâm nhập nguyên liệu và làm giảm lượng protein và chất lượng thức ăn, mạt sả còn gây nên thiệt hại về kinh tế rất lớn trong chăn nuôi . Hiện diện của mạt sả trong TĂCN làm thức ăn có mùi hôi, làm mất đi sự ngon miệng và làm giảm lượng thức ăn ăn vào của vật nuôi (Wilkin và Stables, 1985). Hậu quả cuối cùng là làm giảm thành tích chăn nuôi và tốc độ tăng trưởng (Wilkin và Thind, 1984). Độc tính trong TĂCN gây ra bởi mạt sả có tương quan trực tiếp với tần suất tiêu chảy cao hơn trên động vật (Zdarkova, 1991; Krantz 1995). Loài mạt này cũng là nguồn gốc gây dị ứng nghiêm trọng liên quan đến các bệnh như hen suyễn, viêm da, viêm mũi dị ứng và làm hỏng hạt lương thực (Solarz et al., 2004). Kết luận Mạt sả là tác nhân giấu mặt gây phá hỏng TĂCN, gây thiệt hại kinh tế rất lớn trong ngành chăn nuôi. Giải pháp kiểm soát mạt rất cần thiết nhưng phải an toàn với vật nuôi, con người và môi trường. Xem thêm về chiết suất Thảo dược xua đuổi côn trùng: BioPi Nguồn: Báo Nhà chăn nuôi

Đọc tiếp
Mô hình chuẩn nuôi heo sử dụng đệm lót sinh học 31-10-2019

Mô hình chuẩn nuôi heo sử dụng đệm lót sinh học

Theo Cục Chăn nuôi- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay, tỉnh Hà Nam đang đứng đầu cả nước về số lượng mô hình chăn nuôi gia súc gia cầm trên đệm lót sinh học. Từ năm 2010 đến tháng 4/2013, Hà Nam đã xây dựng được 1.120 mô hình với tổng diện tích đệm lót sinh học là 17.750 m2 cho chăn nuôi heo. Hiện tỉnh đang hỗ trợ 100% chi phí làm đệm lót cho các hộ chăn nuôi áp dụng chế phẩm làm đệm lót sinh học với mức 165.000 đồng/m2 đối với các hộ làm từ 10m2 trở lên và nuôi từ 5- 10 con trên một lứa. Ngoài ra, tỉnh cũng hỗ trợ cho công tác đào tạo, tập huấn về quy trình, kỹ thuật đối với các hộ nuôi. Chuồng trại nuôi heo đạt chuẩn Một chuồng, trại nuôi heo được cho là đạt tiêu chuẩn khi có đầy đủ các điều kiện: Chiều rộng 4-5m, dài không hạn chế, mái cao 2,3-2,7m, đỉnh cao 3,8 – 4,5m. Tường bao cao 1-1,2m; diện tích chuồng từ 10m2-20m2. Nuôi khoảng 15 con heo/20m2 là hợp lý nhất. Vật liệu làm tường bao, tường ngăn, mái tùy điều kiện cụ thể của địa phương. Cấu trúc chuồng hở, mái kép để thoáng. Khi xây mới nền chuồng đất nền phải được nện chặt, không nên láng xi măng. Với chuồng cũ cải tạo, các hộ nuôi cần thiết kế loại đệm lót trên mặt đất, nếu nền cũ bằng nền xi măng có thể giữ nguyên, nhưng phải đục lỗ, mỗi lỗ 4 cm, cách 30 cm đục 1 lỗ. hoặc phá nền cũ để tạo nền chuồng mới. Máng ăn và vòi uống nước tự động cho heo phải đặt ở 2 phía đối nhau để heo tăng sự vận động, đồng thời làm đảo trộn chất độn giúp cho việc lên men tốt hơn. Máng ăn nên cao hơn bề mặt đệm lót trên dưới 20 cm để tránh chất độn rơi vào thức ăn. Các hộ chăn nuôi heo lưu ý xây máng hứng nước dưới vòi nước tự động để tránh nước chảy vào đệm lót. Thiết kế hệ thống phun nước để làm mát và giữ độ ẩm đệm lót thường xuyên. Mô hình chuồng heo đạt tiêu chuẩn Kỹ thuật làm đệm lót sinh học đúng cách Tại buổi Hội thảo: Giới thiệu kỹ thuật chăn nuôi sử dụng đệm lót sinh học, Trung tâm Giao dịch Thông tin Công nghệ Việt Nam đã hướng dẫn cụ thể bà con cách làm đệm lót sinh học đạt tiêu chuẩn. Theo tài liệu của Trung tâm, có 3 loại đệm lót chính: Loại đệm lót dưới mặt đất – đào sâu xuống dưới đất đạt độ sâu bằng độ dày của đệm lót; loại đệm lót nổi trên mặt đất – xây cao tường bao với chiều cao cao hơn một chút so với độ dày của đệm lót; loại đệm lót nửa dưới mặt đất – đào xuống đất chỉ cần độ sâu bằng một nửa của độ dày đệm lót. Tùy thuộc địa thế của chuồng trại, các hộ chăn nuôi heo có thể chọn 1 trong 3 loại đệm lót trên. Độ dầy đệm lót thay đổi theo mùa, mùa hè là 40 – 60cm; mùa đông là 60 – 90 cm. Độ dầy của đệm lót thường giảm thấp do bị nén khi lên men sinh học và do vật nuôi dẫm đạp nên khi làm mới thường tăng thêm độ dầy lên 20% so với ban đầu. Ví dụ: nếu cần độ dầy đệm lót là 60 cm thì khi làm phải tăng thêm 12cm thành 72 cm. Nguyên liệu làm đệm lót có thể là mùn cưa (của các loại gỗ cứng), trấu nghiến, vỏ hạt bông, lạc, thân cây bông nghiền, lõi ngô, thân cây ngô nghiền… Sau khi hoàn thành đệm lót sinh học, các hộ chăn nuôi cần đưa heo vào chuồng đúng cách. Heo phải cùng 1 ổ và trọng lượng tương đồng; phân riêng các con heo khỏe, yếu. Trường hợp khác ổ có thể đánh nhau, nhưng chỉ 2 ngày sau là hết. Nếu cần có thể dùng rượu phun lên mình heo bị cắn và mũi heo hay cắn. Các hộ chăn nuôi cần chú ý tránh phản ứng strees do heo được thả vào trong môi trường mới làm ảnh hưởng đến công năng tiêu hóa ở dạ dầy ruột, cần chú ý trong ngày đầu chỉ cho ăn một ít rau xanh sau đó cho ăn 1 lượng nhỏ thức ăn, sau đó tăng dần dần lượng thức ăn cho đến ngày thứ 7 thì cho ăn bình thường. Có thể bổ sung thêm premix khoáng vitamin. Bước cuối cùng là thường xuyên kiểm tra đệm lót bằng cách quan sát bề mặt đệm lót, quan sát độ ẩm của đệm lót (nên duy trì độ ẩm là 40%). Thường xuyên quan sát phân heo, tốt nhất là heo thải phân phân tán (khác với nuôi heo truyền thống là cần heo thải phân tập trung) sẽ có lợi cho lên men phân. Quan sát thực ăn của heo, cho heo ăn một lượng thức ăn thích hợp không dư thừa. Một yếu tố quan trọng trong kỹ thuật làm đệm lót sinh học là phải duy trì hệ sinh thái vi sinh vật ở đệm lót. Nếu đệm lót kết bánh, thành tảng sẽ làm cho độ phân giải giảm, cần thay thế đệm lót. Cụ thể, nông dân phải hót đi đệm lót tầng mặt khoảng 20- 30 cm, nếu tầng dưới có mùi bình thường, có khi có mùi thơm thì giữ làm nguồn men giống cho lần đệm lót sau nên chỉ cần thay thế tầng mặt. Qua 2 lần sử dụng có thể nghiên cứu thay toàn bộ cả tầng dưới. Lưu ý là có thể nghiên cứu dùng lại độn lót cũ sau khi đã phơi khô, nhưng tối đa chỉ dùng lại 50%. Vào mùa đông có thể tăng nhiệt bằng cách cho thêm 1 lít vi sinh/1m2, hoặc độ ẩm quá cao sẽ cho thêm 1kg bột vi sinh/m2. Về tình hình sử dụng đệm lót sinh học ở Việt Nam, theo Cục Chăn nuôi, hiện nay, tỉnh Hà Nam đang đứng đầu cả nước về số lượng mô hình chăn nuôi gia súc gia cầm trên đệm lót sinh học. Bởi tỉnh này có nhiều chính sách đi kèm khuyến khích và hỗ trợ tối đa cho các cơ sở chăn nuôi heo áp dụng quy trình chăn nuôi trên đệm lót sinh học, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nguồn: Báo Nhà chăn nuôi

Đọc tiếp
Kỹ thuật chăn nuôi gà thả vườn theo hướng An toàn sinh học 31-10-2019

Kỹ thuật chăn nuôi gà thả vườn theo hướng An toàn sinh học

Chăn nuôi gà an toàn theo hướng toàn sinh học (ATSH) nhằm đảm bảo an toàn dịch bệnh và đảm bảo vệ sinh môi trường do đó công tác tiêu độc vệ sinh sát trùng phải được thực hiện thường xuyên. Trước khi nuôi phải xông xịt sát trùng chuồng trại theo quy định. Trong suốt quá trình nuôi mỗi tuần xịt toàn bộ chuồng trại và khu vực xung quanh (trừ máng ăn, máng uống) 1 lần. Xịt từ tuần thứ 1 đến tuần thứ 10 bằng dung dịch Biocide 2% với 0,5 lít/m 2 chuồng trại lúc trời nắng. 1. Chuẩn bị điều kiện nuôi Trước khi đem gà về nuôi cần chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện vật chất, kỹ thuật như: - Chuồng nuôi, rèm che, cót quây, chụp sưởi ấm, máng ăn, máng uống. Tất cả phải được khử trùng trước khi sử dụng từ 5-7 ngày. - Chuẩn bị đầy đủ thức ăn, thuốc thú y, vaccine cần thiết cho đàn gà. - Chuồng nuôi phải đảm bảo thoáng mát mùa hè, kín ấm vào mùa đông. - Nền chuồng thiết kế đúng kỹ thuật, cao ráo, thoát nước. - Chất độn chuồng: Trấu, dăm bào sạch, dày 5cm -10cm được phun sát trùng trước khi sử dụng. - Đảm bảo lưu thông không khí trong chuồng nuôi. a. Chuồng trại - Chọn khu đất cao ráo, thoáng mát để xây dựng chuồng gà. Nên làm chuồng theo hướng Đông hoặc Đông Nam để hứng được nắng buổi sáng và tránh được nắng buổi chiều. - Nếu nuôi nhốt hoàn toàn, chú ý mật độ nuôi thích hợp (8 con/m 2 nếu nuôi gà thịt trên sàn; 10 con/m 2 nếu nuôi gà thịt trên nền). - Nếu nuôi gà thả vườn, chuồng là nơi để tránh mưa nắng và ngủ đêm, mật độ vườn thả gà đủ điều kiện ít nhất 1con/m 2 . - Mặt trước cửa chuồng hướng về phía Đông Nam. Sàn chuồng làm bằng lưới hoặc tre thưa cách mặt đất 0,5m để tạo độ thông thoáng, khô ráo, dễ dọn vệ sinh. - Rào chắn xung quanh vườn bằng lưới B40, lưới nilon, tre gỗ... tùy điều kiện nuôi của từng hộ. Ban ngày khô ráo thả gà ra sân, vườn để gà có khỏang không chơi, buổi tối cho gà về chuồng. b. Lồng úm gà con - Kích thước 2m x 1m, cao chân 0,5m đủ nuôi cho 100 con gà. - Sưởi ấm cho gà bằng đèn (hai bóng 75W dùng cho 100 con gà). c. Máng ăn - Khi gà còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) rải thức ăn trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn. - Khi gà 4-14 ngày tuổi cho gà ăn bằng máng ăn cho gà con. - Trên 15 ngày cho gà ăn máng treo. d. Máng uống Đặt hoặc treo xen kẽ các máng uống với máng ăn trong chuồng hoặc vườn. Thay nước sạch cho gà 2-3 lần/ngày. e. Bể tắm cát, máng cát sỏi cho gà - Gà rất thích tắm cát. - Đối với gà nuôi chăn thả phải xây bể chứa cát, tro bếp và diêm sinh cho gà tắm. Kích thước bể dài 2m, rộng 1m, cao 0,3m cho 40 gà. - Đặt một số máng cát, sỏi hoặc đá nhỏ xung quanh nơi chăn thả để gà ăn, giúp gà tiêu hóa thức ăn tốt hơn. f. Dàn đậu cho gà - Gà có tập tính thích ngủ trên cao vào ban đêm để tránh kẻ thù và giữ ẩm cho đôi chân, tránh nhiễm bệnh. Do đó nên tạo một số dàn đậu cho gà ngủ trong chuồng. - Dàn đậu làm bằng tre, gỗ (không nên làm bằng cây tròn vì trơn gà khó đậu). Dàn cách nền chuồng khoảng 0,5m, cách nhau 0,3-0,4m để gà khỏi đụng vào nhau, mổ nhau và ỉa phân lên nhau. Làm ổ đẻ cho gà để nơi tối. Một ổ đẻ cho 5-10 con gà mái. Vườn chăn thả: 1 m 2 / 1gà. 2. Chọn giống - Nuôi thịt: Chọn giống gà Tàu vàng, gà Đông Tảo, gà Nòi, gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng..... - Nuôi gà lấy trứng thương phẩm: Chọn những giống gà đẻ nhiều như gà Tàu Vàng, gà Tam Hoàng, gà BT1, gà Ri.... Chọn giống gà con - Chọn gà con càng đồng đều về trọng lượng càng tốt. - Chọn những con nhanh, mắt sáng, lông bông, bụng gọn, chân mập. - Tránh chọn những con gà khô chân, vẹo mỏ, khoèo chân, hở rốn, xệ bụng, lỗ huyệt bết lông, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh rốn. Chọn gà đẻ tốt - Chọn con có trọng lượng không quá thấp, không quá mập, lúc 20 tuần tuổi đạt 1,6-1,7 kg thì rất tốt. - Đầu nhỏ, mỏ ngắn đều, mồng tích to, đỏ tươi. - Mắt sáng, lông mượt xếp sát vào thân, bụng phát triển mềm mại. - Hậu môn rộng màu hồng tươi và ẩm ướt. - Khoảng cách giữa xương chậu và xương ức rộng độ 3-4 ngón tay, giữa hai xương chậu rộng gần 2-3 ngón tay xếp lại. 3. Chăm sóc nuôi dưỡng - Nên vận chuyển gà con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão hay áp thấp nhiệt đới. Đưa gà vào chuồng úm, cho gà uống nước pha Electrotyle hoặc VitamineC, chỉ cho gà ăn tấm nấu hoặc tấm, bắp nhuyễn ngâm sau khi gà nở ít nhất là 12 giờ, tiếp tục cho ăn uống như thế đến 2 ngày. Sang ngày thứ 3 thì pha với lượng tăng dần thức ăn công nghiệp hoặc tự trộn phụ phế phẩm. - Trộn thuốc cầu trùng vào trong thức ăn cho gà từ ngày thứ 7 trở đi, dùng Rigecoccin 1gr/10kg thức ăn (hoặc dùng Sulfamid trộn tỷ lệ 5%).Thay giấy lót đáy chuồng và dọn phân mỗi ngày sạch sẽ. - Rửa máng ăn, máng uống sạch sẽ, quan sát tình trạng ăn uống đi đứng của gà, nếu thấy con nào buồn bã, ủ rũ cần cách ly ngay để theo dõi. - Dùng bóng đèn tròn 75W úm cho 1m 2 chuồng có che chắn để giữ nhiệt, tùy theo thời tiết mà tăng giảm lượng nhiệt bằng cách nâng hoặc hạ độ cao của bóng đèn. - Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà ăn nhiều thức ăn hơn. - Thường xuyên quan sát biểu hiện của đàn gà để kịp xử lý những bất thường xảy ra. Khi thời tiết thay đổi nên cho gà uống nước pha Electrolyte hoặc Vitamine C. - Do tập tính của gà thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn. - Nếu là gà nuôi thịt thì không cần cắt mỏ. Đối với gà đẻ để giảm hiện tượng cắn mổ nhau thì nên cắt mỏ (chỉ cắt phần sừng của mỏ) vào tuần 6-7. - Ánh sáng: Dùng ánh sáng tự nhiên ban ngày, ban đêm thắp đèn cho gà ăn tự do, dùng máng ăn tự động hình trụ 50 con/máng đổ đầy thức ăn cho 1 ngày đêm, sáng sớm trước khi cho ăn nên kiểm tra và loại bỏ thức ăn thừa hoặc phân trấu dính vào máng ăn. Không thả rèm (chỉ thả khi trời mưa bão lạnh). Cứ 2 tuần 1 lần cân 10% tổng số gà để tính trọng lượng bình quân. - Chú ý trong khi nuôi hoặc chủng ngừa cần loại những con còi cọc, nhốt và nuôi riêng để đạt tỷ lệ đồng đều cao. - Phân gà được hốt dọn thường xuyên (nếu nuôi lồng) hoặc cuối đợt (nếu nuôi trên nền trấu) và phải được đem ủ kỹ với vôi bột 3 tháng sau mới đem dùng. - Khi gà đạt trọng lượng 2kg thì xuất bán. Chú ý xuất và chở gà đi lúc trời mát và xe chuyên dùng phải có hệ thống thông gió tránh gà chết ngạt hàng loạt. Nếu chở đi xa tốt nhất chở vào ban đêm tới nơi giết thịt trời vừa sáng là tốt nhất. - Phải đưa gà đến các cơ sở giết mổ tập trung và phải có dấu của thú y mới được bán. Chú ý: Không nuôi nhiều cỡ gà trong 1 chuồng, trước khi nuôi đợt mới cần phải sát trùng toàn bộ chuồng trại, dụng cụ. 4. Thức ăn cho gà - Gà là một trong số con vật nhạy cảm, nên tuyệt đối không cho gà ăn thức ăn bị ôi mốc, nhiễm nấm, thối rữa. - Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các phụ phế phẩm công nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và Vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng. - Đối với gà thả vườn thì vấn đề khoáng và vitamine không quan trọng bằng gà nuôi nhốt, vì chúng sẽ tự tìm kiếm theo nhu cầu của cơ thể. Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà. - Ngày đầu tiên chỉ cho gà uống nước, ăn tấm hoặc bắp nhuyễn. Thức ăn mỗi lần rải một ít để thức ăn luôn thơm ngon kích thích tính thèm ăn của gà. - Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn công nghiệp. Cho gà ăn nhiều bữa trong ngày, ăn tự do. - Nếu sử dụng máng treo để cho gà phải thường xuyên theo dõi điều chỉnh độ cao của máng để gà ăn một cách thoải mái và tránh rơi vãi thức ăn. - Nước uống phải sạch và đầy đủ cho gà uống, gà sống lâu hơn nếu thiếu thức ăn hơn thiếu nước. - Cho gà ăn tự do suốt quá trình nuôi, để đèn ban đêm cho gà ăn càng nhiều càng tốt, khi chuyển thức ăn từ loại này sang loại khác phải làm từ từ. Phương pháp chuyển thức ăn như sau: Ngày Thức ăn số 1(%) Thức ăn số 2 (%) 1 75 25 2 50 50 3 25 75 4 0 100 5. Vệ sinh phòng bệnh - Vệ sinh phòng bệnh là công tác chủ yếu, đảm bảo "Ăn sạch, ở sạch, uống sạch". Nền chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả. - Áp dụng nghiêm ngặt lịch phòng vaccine tuỳ theo từng địa phương. Ngoài ra, dùng kháng sinh phòng một số bệnh do vi trùng, đặc biệt đối với gà thả nền thì cần phải phòng bệnh cầu trùng khi cho xuống nền và thả vườn. a. Những nguyên nhân gây bệnh - Gia cầm non, gia cầm bị suy yếu, giống mẫn cảm với bệnh. - Môi trường sống: + Thức ăn không cân bằng dinh dưỡng dễ làm con vật mắc bệnh. + Nước uống phải sạch. + Không khí, nhiệt độ .... b. Sức đề kháng của cơ thể gia cầm - Mỗi con vật đều có một hàng rào cơ học để tự bảo vệ cơ thể. - Sức đề kháng do con người tạo bằng cách tiêm các loại vaccin phòng bệnh (sức đề kháng chủ động). c. Các biện pháp vệ sinh phòng bệnh + Vệ sinh phòng bệnh - Thức ăn tốt. - Nước sạch. - Con giống có khả năng chống đỡ với bệnh tật cao. - Chuồng nuôi sạch. - Quanh chuồng nuôi phải phát quang. - Thực hiện tốt qui trình thú y về vệ sinh phòng bệnh. + Phòng bằng Vaccine Lịch chủng ngừa STT Ngày tuổi Loại Vacxin Cách dùng 1 3 ngày Niu-cat-xơn hệ 2 (lần1) Nhỏ mắt 2 7 ngày Gumburo (lần 1) + Đậu Nhỏ mắt, chích cánh 3 14 ngày Gumburo lần 2 Nhỏ mắt 4 21 ngày Niu-cat-xơn (lần 2) + IB Nhỏ mắt 5 28 ngày Gumburo (lần 3) Nhỏ mắt 6 49 ngày Cúm gia cầm H5N1 Chích bắp thịt Chú ý: Lịch chủng ngừa trên chỉ là tham khảo, tùy từng vùng người nuôi có quy trình chủng ngừa phù hợp. Trong qúa trình nuôi nếu đến lịch chủng ngừa mà gà có biểu hiện bệnh thì không chủng mà phải điều trị cho gà khỏi hẳn thì mới chủng ngừa, nếu gà đang bị bệnh mà chủng ngừa thì gà sẽ bệnh nặng thêm và hiệu lực của vaccine cũng giảm. + Lưu ý khi dùng vaccine phòng bệnh - Chỉ dùng khi đàn gia cầm khỏe. - Lắc kỹ vaccine trước và trong khi dùng. - Vaccine mở ra chỉ sử dụng trong ngày, dư phải hủy bỏ. Dùng vitamin để tăng bồi dưỡng cho gia cầm. + Phòng bằng thuốc: - Bệnh ở đường tiêu hóa: Oxyteracilin, chloramphenicol... - Bệnh đường hô hấp: Tylosin, Tiamulin,... Không dùng một loại kháng sinh liên tiếp trong các liệu trình. Mỗi liệu trình phòng bệnh khoảng 3-4 ngày là đủ 6. Một số bệnh thường gặp ở gà 6.1. BỆNH CẦU TRÙNG Nguyên nhân: Bệnh lan truyền do gà ăn phải thức ăn, uống nước có lẫn các noãn bào. Bệnh dễ lây truyền từ chuồng này sang chuồng khác, nơi này sang nơi khác do con người, súc vật... vô tình mang các noãn bào này đi xa. Tốc độ sinh sản nhanh của các cầu trùng khiến bệnh dễ bộc phát. Bệnh cầu trùng thường làm tăng tỷ lệ tử vong cho gà nhỏ, gà phát triển chậm, yếu, dễ bị bội nhiễm các bệnh khác. Mức độ gây bệnh tùy thuộc vào phương thức nuôi, nuôi trên sàn lưới ít mắc bệnh hơn nuôi trên nền. Triệu chứng: Gà ủ rũ, xù lông, chậm chạp, phân đỏ hoặc sáp nhiều khi có máu tươi. Gà đẻ vỏ trứng mỏng, tỷ lệ đẻ giảm. Bệnh tích: Manh tràng sưng to, chân đầy máu. Ruột sưng to. Trong đường tiêu hóa có dịch nhầy và máu. Phòng bệnh: Vệ sinh phòng bệnh chặt chẽ, đặc biệt không để nền chuồng, chất đọng làm chuồng ẩm ướt. - Dùng thuốc trộn vào thức ăn hay pha nước uống cho gà. - Sử dụng một trong các loại thuốc sau (dùng trong 3 ngày): Anticoc 1gr/1 lít nước; Baycoc 1ml/ 1 lít nước. Trị bệnh: Tăng liều gấp đôi liều phòng. 6.2. BỆNH THƯƠNG HÀN (Salmonellosis) Nguyên nhân: Do vi khuẩn gây ra, bệnh có thể truyền trực tiếp từ gà mẹ sang gà con và cũng có thể nhiễm gián tiếp qua thức ăn, nước uống bị nhiễm mầm bệnh. Triệu chứng: Gà ủ rũ, phân trắng loãng, hôi thối. Gà đẻ trứng giảm, trứng méo mó, mào tái nhợt nhạt hoặc teo. Bệnh tích: + Gà con: Gan sưng, có điểm hoại tử trắng, niêm mạc ruột viêm loét lan tràn. + Gà đẻ: Gan có điểm hoại tử trắng, túi mật sưng to, buồng trứng đen tím, trứng non dị hình méo mó. Phòng bệnh: Bằng các biện pháp vệ sinh tổng hợp. Có thể dùng kháng sinh để phòng bệnh: Oxytetracyclin: 50-80mg/gà/ngày, dùng trong 5 ngày. Chloramphenical: 1gr/5-10 lít nước, dùng trong 2-3 ngày. Trị bệnh: Tăng liều gấp đôi so với liều phòng bệnh. 6.3. BỆNH DỊCH TẢ (Newcastle disease) Nguyên nhân: Bệnh do virus gây ra, bệnh lây lan mạnh. Chủ yếu lây qua đường tiêu hóa, tuy nhiên bệnh cũng có thể lây qua dụng cụ chăn nuôi. Gà ở mọi lứa tuổi đều mắc bệnh. Triệu chứng: Thường biểu hiện ở 2 thể: Cấp tính và mãn tính. + Thể cấp tính: Bệnh xuất hiện đột ngột, gà chết nhanh không biểu hiện rõ triệu chứng. Thường rụt cổ, ngoẹo đầu vào cánh, ủ rũ, nhắm mắt mê man bất tỉnh, sau đó chết. - Khó thở, nhịp thở tăng, hắt hơi (con vật há mồm, vươn cổ thở). - Tiêu chảy phân màu xanh - trắng, diều căng đầy hơi. - Một số con chảy dịch nhờn ở mắt, mũi. Tích, mào tím xanh. Nếu sau 4-5 ngày gà không chết sẽ xuất hiện triệu chứng thần kinh: Gà vận động tròn theo một phía, đi đứng không vững. Gà giảm đẻ, vỏ trứng mềm.Tỷ lệ chết từ 50-90%. + Thể mãn tính: Những gà bị bệnh kéo dài sẽ chuyển sang thể mãn tính. Triệu chứng chủ yếu ở đường hô hấp, thở khò khè, kém ăn, giảm đẻ.... Gà trở thành vật mang trùng. Tỷ lệ chết 10%. Bệnh tích: Biến đổi tùy thuộc vào thời gian kéo dài bệnh, lứa tuổi và độc lực của virus. Dạ dày tuyến xuất huyết, có dịch nhầy ở ruột già. Phòng bệnh: Chủ yếu là bằng vaccine. Trị bệnh: Dùng các thuốc tăng sức đề kháng:Vitamix, vit-plus,... 6 . 4. BỆNH GUMBORO Nguyên nhân: Do virus. Gà thường mắc bệnh ở 4-8 tuần tuổi. Triệu chứng: Phân lúc đầu loãng, trắng, nhớt nhầy, sau loãng nâu. - Gà sút nhanh, run rẩy. Tỷ lệ nhiễm bệnh rất nhanh: 2-5 ngày toàn đàn bị nhiễm.Tỷ lệ chết: 10-30%. - Gà thịt thường phát bệnh sớm hơn (ở giai đoạn 20-40 ngày). Bệnh tích: Cơ đùi xuất huyết đỏ thành vệt. Bệnh mới phát túi Fabricius sưng to. - Ngày thứ 2: Thận sưng nhạt màu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy. - Ngày thứ 3: Xuất huyết lấm tấm hoặc thành vệt cơ đùi, cơ ngực. - Ngày thứ 5,6,7 túi Fabricius teo nhỏ, cơ đùi, cơ ngực tím bầm. Phòng và trị bệnh: - Phòng bệnh bằng vệ sinh: Định kỳ tiêu độc sát trùng chuồng trại thường xuyên mỗi tháng và sau mỗi đợt nuôi. - Phòng bằng vaccine.

Đọc tiếp
Giảm chi phí thức ăn trong nuôi gia cầm 01-10-2019

Giảm chi phí thức ăn trong nuôi gia cầm

Khi tối thiểu hóa được chi phí thức ăn trong chăn nuôi sẽ cải thiện được hiệu quả sản xuất và tối đa hóa được lợi nhuận của người chăn nuôi gà. Nếu mức độ cho gà ăn phù hợp với điều kiện từng trại thì người chăn nuôi có thể tiết kiệm được khoảng 10% cám. Cho gà ăn đúng cách Để đạt được trọng lượng mục tiêu trong thời gian ngắn thì gà thịt thường được cho ăn tự do để chúng tự nạp đủ nhu cầu năng lượng cơ thể cần. Tuy nhiên những năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu khuyến cáo, nên cho gà thịt ăn có kiểm soát thời gian để đạt được hiệu quả kinh tế. Theo đó, gà được cho ăn một lượng thức ăn nhất định trong một ngày khoảng 4 - 6 lần để ăn được hết thức ăn, sau đó có khoảng thời gian nghỉ từ 1 giờ hoặc ít hơn. Với chế độ này giúp làm giảm kích thích cơ học của việc tiêu thụ thức ăn thường thấy trong chế độ ăn theo dây chuyền liên tục cả ngày. Chi phí thức ăn trong nuôi gia cầm ảnh hưởng đến năng suất chăn nuôi - Ảnh: ST Thiết kế máng ăn hợp lý Ở một số trang trại nhất là trang trại nuôi gà theo hình thức thả vườn: thức ăn cho gà thường được đựng vào máng tròn - dẹt hay các loại máng dài khoảng 1,5 - 2 m làm từ tấm kim loại hoặc bằng gỗ đặt ngoài trời mưa mà không có mái che. Loại máng này thường có chi phí thấp, khá bền nhưng lại xảy ra vấn đề nghiêm trọng đó là có thể gây ra lãng phí thức ăn vì gà thường sẽ bước chân vào trong máng làm đổ máng hay tãi thức ăn ra ngoài. Một số khác, người chăn nuôi còn bớt đi phần công việc cho cám vào máng hoặc khay ăn bằng cách đổ trực tiếp thức ăn trên nền đất. Với những cách cho gà ăn như này, người chăn nuôi khó có thể đối phó khi thời tiết ở Việt Nam. Để khắc phục vấn đề này, người chăn nuôi nên thay đổi loại máng ăn khác hoặc làm mái che và bộ phận điều tiết tốc độ chảy tự động, bố trí máng, khay ăn quanh sân vườn với tỷ lệ phù hợp với số gà. Đồng thời tránh đổ thức ăn trong máng quá đầy và duy trì ở mức độ nhất định để giảm thiểu tổn thất. Cắt mỏ cho gà Việc cắt mỏ gà giai đoạn từ 12 - 15 ngày tuổi sẽ làm giảm vấn đề rơi vãi thức ăn, đồng thời giảm tình trạng cắn mổ nhau và các thói quen xấu khác. Với gà đẻ cắt mỏ từ 1/2 - 2/3 mỏ và cắt 1/4 - 1/3 đối với gà thịt. Cho ăn cám trộn sỏi Tiêu hóa ở dạ dày cơ là co bóp nhào trộn thức ăn, chính vì thế với thức ăn hạt, nhất là đối với gà ăn thóc hay ăn ngô hạt, khả năng tiêu hóa để triệt để, có thể bổ sung cho gà thêm sỏi, trộn trực tiếp sỏi vào khẩu phần thức ăn. Là một trong những cách tiết kiệm thức ăn cho gà rất hiệu quả. Việc bổ sung sỏi vào thức ăn có thể giúp tiết kiệm được 4,3% cám trên gà đẻ và 6,4% cám trên gà thịt. Cắt cám trước khi xuất chuồng gà thịt 6 tiếng Với mong muốn đạt được tối đa lợi ích kinh tế, tâm lý chung của nhiều người chăn nuôi là muốn đàn gà có mức cân nặng nặng nhất vào thời điểm cân bán xuất chuồng, do đó trước khi xuất chuồng, nhiều trại ra sức cho gà ăn nhiều cám. Tuy vậy khi bị stress do di chuyển cám không tiêu hóa hết sẽ khiến chất lượng thịt bị sụt giảm, tỷ lệ móc hàm thịt giảm sút theo. Một số yếu tố khác Ngoài những yếu tố kể trên, để tiết kiệm thức ăn trong chăn nuôi gà, người chăn nuôi cần chú ý đến việc kiểm soát động vật gặm nhấm. Một con chuột 250 gram có thể ăn được số lượng bằng với trọng lượng cơ thể của nó trong một ngày (khoảng 90 kg/con/năm). Và cuối cùng, hư hỏng thức ăn và bị nhiễm nấm mốc cũng là yếu tố góp phần vào thiệt hại và hao phí thức ăn. Những vấn đề này thường xảy ra với thức ăn không được xử lý một cách khoa học, thích hợp, nhất là các vùng nhiệt đới có điều kiện khí hậu nóng ẩm. Nguồn: Người Chăn Nuôi ------------ Tham khảo dòng sản phẩm Giảm FCR, Giảm chi phí thức ăn chăn nuôi tại đây

Đọc tiếp
Chữa cảm nắng, cảm nóng cho gia súc 23-09-2019

Chữa cảm nắng, cảm nóng cho gia súc

Những ngày nắng nóng, trâu bò, nhất là ở bò sữa rất dễ mắc chứng bệnh cảm nắng, cảm nóng, nếu không có biện pháp chữa trị kịp thời con vật có thể chết làm thiệt hại kinh tế. Ảnh: Tomorrow Bệnh xảy ra chủ yếu trong điều kiện trâu bò nuôi nhốt ở mật độ cao, do vận chuyển đường dài, do bị trực tiếp ánh nắng chiếu vào, do trâu bò bị làm việc quá sức trong những ngày nắng nóng (ở trâu bò cày kéo) hoặc do chuồng trại nuôi nhốt không được che chắn, áp dụng các biện pháp làm mát… Triệu chứng chung khi trâu bò bị cảm nắng, cảm nóng thường dễ nhận thấy là con vật ngây ngất, chân đi lảo đảo, niêm mạc tím bầm. Một thời gian ngắn sau đó, thấy con vật ở trạng thái căng thẳng, lồng lộn lên hoặc rất sợ hãi, hai mắt lồi lên, đỏ ngầu, mạch nhanh, yếu, con vật thở rất khó khăn, nếu không được chữa kịp thời con vật có thể chết. Bệnh có thể xảy ra trên nhiều con trong đàn hoặc chỉ một vài con trong đàn. Trường hợp đang vận chuyển trên xe hoặc nuôi nhốt ở mật độ cao có thể thấy cả đàn có triệu chứng ngây ngất, lờ đờ không linh hoạt, nhất là biểu hiện ở mắt thấy niêm mạc đỏ ửng. Một số biện pháp và bài thuốc chữa bệnh khi thấy trâu, bò có các biểu hiện trên: – Khi đang vận chuyển hoặc do nuôi nhốt số lượng lớn, cần cho ngay con vật nghỉ ngơi ở khu vực có nhiều bóng cây mát, tách riêng từng con ra ở vị trí riêng nhằm giảm lượng khí độc do chính từ các con vật thải ra khi nhốt chung. Trường hợp con vật đang làm việc như cày, kéo thì cho con vật nghỉ ngơi ngay, chọn nơi mát, yên tĩnh. – Dùng quạt mát, quạt thoảng từ phía trước cho con vật, tốc độ vừa phải để giúp con vật hạ nhiệt từ từ, tránh làm con vật sốc, choáng. – Dùng khăn mát lau cho con vật, trước hết lau ở phần đầu, vùng mặt, sau đó xuống toàn thân, khoảng 1 – 2 giờ sau có thể tắm cho con vật. Lưu ý không dùng nước lạnh dội ngay vào vùng đầu, mặt của con vật hoặc khi con vật chưa có thời gian cân bằng trạng thái cơ thể đã dùng nước lạnh dội, tắm cho con vật (thực tế nhiều trường hợp đã gây chết ngay cho con vật khi xử lý như vậy). – Bổ sung nước trực tiếp cho trâu bò: đây là biện pháp rất cần thiết áp dụng ngay khi đưa con vật vào nơi có bóng mát. Tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để cho con vật uống nước như sau: + Cho uống nước mát, tốt nhất dùng một lượng muối hòa nước cho uống (01 thìa cà phê/10 lít nước). + Dùng 0,5 – 01 kg lá rau má giã nhỏ cùng 20 – 30 gr muối tinh (01 thìa cà phê) sau đó hòa 1 – 2 lít nước cho con vật uống, bã rau má có thể cho con vật ăn trực tiếp hoặc tiếp tục hòa nước cho con vật uống. + Dùng 0,2 – 0,5 kg cây diếp cá giã nhỏ cùng 20 – 30gr muối tinh (1 thìa cà phê) hòa cùng 1 – 2 lít nước cho con vật uống trực tiếp. + Dùng 100 – 200 gr bột sắn dây với 2 – 3 lít nước hòa nước cho con vật uống trực tiếp hoặc dùng 100 – 200 gr hạt đỗ đen rang đun nước cho uống 2 – 3lít/lần, uống 2 – 3 lần/ngày. + Dùng thuốc, chất điện giải cho con vật: ở những nơi có điều kiện, tiện việc dùng thuốc hoặc có thuốc dự phòng trên đường vận chuyển dùng ngay các loại thuốc điện giải như Han-Lytevit C, Vitamin C, ADE Bcom lex, đường Gluco,… Lưu ý việc dùng các loại lá, bột sắn dây, các chất điện giải có thể chia uống nhiều lần trong ngày để giúp cho con vật hấp thu tốt, nhanh chóng trở lại trạng thái bình thường đồng thời nâng cao sức đề kháng cho con vật. Có thể dùng một trong các loại lá, bột sắn dây nêu trên song cũng có thể dùng kết hợp nhưng lưu ý không dùng cùng lúc và dùng quá nhiều loại trong ngày. Để phòng bệnh cần chú ý chủ động áp dụng các biện pháp làm mát cho trâu bò như: - Xây dựng chuồng trại cần đảm bảo thông thoáng. Vào lúc nhiệt độ môi trường tăng quá cao, không nên cho trâu bò ăn quá no, tắm mát cho trâu bò bằng vòi xịt, hoặc dùng hệ thống phun sương, xịt nước lên mái chuồng và quan trọng nhất là cấp đầy đủ nước uống cho con vật. - Mật độ nuôi nhốt, vận chuyển nên vừa phải, tốt nhất nên vận chuyển vào lúc trời mát, khi vận chuyển nên mang dự phòng các chất điện giải để hòa nước cho con vật uống. (VD: CATOFOS , REP-LYTE ). (Click vào ảnh hoặc tên sản phẩm để xem liều dùng và các dùng) - Đồng thời chú ý thực hiện tốt các quy trình chăn nuôi từ chăm sóc nuôi dưỡng, khai thác sữa, chế độ làm việc, vệ sinh thú y trong những ngày nắng nóng, kịp thời xử lý ngay khi phát hiện con vật có biểu hiện bệnh. Có như vậy sẽ đảm bảo sức khỏe cho đàn trâu bò trong những ngày nắng nóng. Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội Nguồn: Báo Người chăn nuôi

Đọc tiếp
popup

Số lượng:

Tổng tiền: