“PROBIOTIC” CHẾ PHẨM SINH HỌC TRONG CHĂN NUÔI 17-09-2019

“PROBIOTIC” CHẾ PHẨM SINH HỌC TRONG CHĂN NUÔI

“PROBIOTIC” CHẾ PHẨM SINH HỌC ĐẬM ĐẶC DÙNG PHÒNG BỆNH VÀ TĂNG TRỌNG CHO GIA SÚC, GIA CẦM THÀNHPHẦN Bacillus subtilis (REP-2106)…..........................………......…….…………………...........….…………………...........…....................3x10 10 CFU Lactobacillus casei (REP-1206)……………......................…….…………………...........….…………………...........…....................2x10 10 CFU Lactobacillus acidophilus (REP-1107)…………………...........….…………………...........….…………………...........…....................8x10 9 CFU Lactobacillus rhamnosus (REP-1503)........................................ …………………...........….…………………...........….................... 2x10 9 CFU * CFU (Colony FormingUnit): Đơn Vị Khuẩn Lạc CÔNG DỤNG CHÍNH - Các vi khuẩn có lợi trong sản phẩm có khả năng sản sinh ra nhiều enzyme ngoại bào amylase, protease,… tăng cường phân giải thức ăn giúp sử dụng hiệu quả lượng ăn vào (tăng tỷ lệ chuyển hóa thức ăn). - Bacillus subtilis tạo ra các hợp chất kháng khuẩn như subtilin, bacitracin… ức chế vi sinh vật gây bệnh, kích thích tăng cường đáp ứng miễn dịch. - Vật nuôi tăng trưởng nhanh, cải thiện năng suất, tăng chất lượng thịt, trứng sữa. TÍNH CHẤT VI KHUẨN 1. Khả năng sống trong môi trường tương tự đường tiêu hóa 2. Khả năng kháng khuẩn E. coli ATCC 25922 Salmonella typhi ATCC 14028 - Trên đĩa môi trường có trải vi khuẩn gây bệnh E. coli / Salmonella typhi. Chúng tôi đục lỗ thạch và bơm vi khuẩn Bacillus subtilis REP-2106 vào. - Sau khi vi khuẩn mọc, chúng tôi quan sát thấy chủng Bacillus subtilis REP-2106 đã tăng sinh và tiết ra hợp chất kháng khuẩn tiêu diệt E. Coli / Salmonella typhi tạo ra vòng vô khuẩn. Clostridium perfringens ATCC 13124 - Trên đĩa môi trường nuôi cấy vi khuẩn gây bệnh Clostridium perfringens ATCC 13124. Chúng tôi đục lỗ thạch và bơm dịch nuôi cấy vi khuẩn Bacillus subtilis REP-2106, Lactobacillus spp đã qua lọc và môi trường nuôi cấy vô trùng. Nuôi cấy trong điều kiện kị khí ở 37oC - 20 giờ, chúng tôi quan sát thấy dịch nuôi cấy Bacillus subtilis REP-2106 có hợp chất kháng Clostridium perfringens tạo ra vòng vô khuẩn. Trong khi, ở Lactobacillus spp và chứng âm không xuất hiện. - Ngoài ra, các chủng vi khuẩn trong sản phẩm NUTRILACZYM còn có các đặc tính có lợi khác. Bacillus subtilis REP-2106 có khả năng sống trên 97% ở nhiệt độ 85OC trong 15 phút. Khả năng sống sót của các chủng Bacillus subtilis REP-2106, Lactobacillus acidophilius REP-1107, Lactobacillus casei REP-1206, Lactobacillus rhamnosus REP-1503 trong điều kiện chlorine 50ppm lần lượt là 98.05%, 99.73%, 96.31%, 95.9%. Các chủng còn có khả năng kháng khángsinh colistin, Sulfamethoxazole, Enrofloxacin (MIC >128µg/ml), Trimethoprim (MIC 64µg/ml). *ATCC: American Type Culture Collection. ĐỊNH DANH Trình tự gen 16S rDNA (16SrDNA sequence) - Các chủng vi khuẩn có tính chất Gram phù hợp được thực hiện định danh bằng kỹ thuật giải trình tự gen 16SrRNA, so sánh trình tự 16SrDNA của vi khuẩn cần định danh với cơ sở dữ liệu tại ngân hàng gen (GenBank) NCBI để tra cứu kết quả. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Hồ Trung Thông (2016), Ảnh hưởng của bổ sung Probiotic vào khẩu phần ăn đến sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn của gà ri lai nuôi thịt. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi 2016, số 214 tr.41-46 2. Hồ Trung Thông (2016), Đánh giá khả năng sống trong môi trường đường tiêu hóa của động vật trong điều kiện In vitro của một số chủng Bacillus subtilis. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi 2016, số 205 tr.30-36 3. Phạm Thái Bình (2018), Nghiên cứu sử dụng vi khuẩn Bacillus và Lactobacillus để sản xuất chế phẩm probiotic dùng trong chăn nuôi. -------------------------------------- Phòng Truyền Thông - R.E.P Biotech JSC

Đọc tiếp
Chống nóng cho gà: Nghe chuyên gia chia sẻ những kinh nghiệm “xương máu” 06-08-2019

Chống nóng cho gà: Nghe chuyên gia chia sẻ những kinh nghiệm “xương máu”

Với đặc điểm nổi bật là không có tuyến mồ hôi và lại thêm bộ lông dầy, chống nóng cho gà trong bối cảnh thời tiết khí hậu diễn biến phức tạp với những đợt nắng nóng kéo dài cường độ mạnh 38 – 42º C là hoàn toàn không dễ dàng. Đàn gà sẽ có những hiện tượng như giảm ăn, giảm sức đề kháng nên rất dễ mắc bệnh (đặc biệt là “cảm nóng” dẫn đến chết đột ngột với số lượng lớn ,…). Để hạn chế những bất lợi này và tạo điều kiện cho đàn gà phát triển tốt, Công ty Cổ phần Giống gia cầm Lượng Huệ xin chia sẻ với người chăn nuôi các số biện pháp cụ thể chống nóng cho đàn gà như sau: Chống nóng cho gà bằng cách cải tiến hệ thống chuồng trại Một chuồng gà được thiết kế khoa học và cách nhiệt tốt có thể làm giảm nhiệt độ trong chuồng từ 3-6 độ C so với môi trường vào ngày nắng nóng. Trong chăn nuôi xây dựng thiết kế hệ thống chuồng trại là rất quan trọng, chuồng trại tốt đạt chuẩn giúp quy trình chăn nuôi đảm bảo và công tác chăm sóc quản lý trở lên dễ dàng hơn từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất. Đối với việc phòng chống nóng cho gia cầm thì khâu thiết kế chuồng trại là khâu rất quan trọng góp phần ảnh hưởng rất lớn đến công tác hạ nhiệt trong chuồng nuôi. Dưới đây là các tiêu chuẩn về chuồng trại đạt yêu cầu chống nóng tốt: – Chuồng thiết kế cao ráo, thông thoáng, mát mẻ vào mùa hè, tránh được mưa tạt, gió lùa. – Hướng chuồng tốt nhất là hướng đông nam hoặc đông tây, tránh bức xạ mặt trời. – Xung quanh chuồng nuôi và sân chơi ( gà thả vườn) trồng cây xanh tạo bóng mát và không khí thông thoáng. – Nền chuồng sạch sẽ, chất độn chuồng trải mỏng, định kỳ thay chất độn chuồng sao cho luôn khô ráo, sạch mầm bệnh. – Mái thiết kế: Cách mặt đất ít nhất 2m, nên lợp mái mũi hoặc mái chồng để lưu thông không khí được tốt. Chọn loại vật liệu lợp mái không nên quá nóng có thể lợp mái ngói, trên đó phủ 1 lớp mái lá và bên dưới mái phía trong chuồng thì phủ 1 lớp bạt chống nóng. Tránh dùng mái quá nóng như mái fibro xi măng. – Mặt tường ngoài của dãy chuồng nên sơn (quét vôi, ve) màu trắng để giảm bức xạ nhiệt. Đối với chuồng kín: Cần lắp đặt hệ thống quạt thông gió và giàn làm mát hợp lý (nên theo hướng dẫn của kỹ sư thiết kế chuồng trại) sao cho thông thoáng nhất và giảm được lượng khí độc lưu thông trong chuồng. Quạt nên lắp ở thế nằm ngang ở cuối hướng gió, cuối chuồng. Không treo quạt trên trần nhà, trên cao thổi xuống vì không khí thổi từ trên xuống là không khí nóng, hiệu quả chống nóng cho gia cầm thấp. Giàn mát lắp ở 2 bên đầu chuồng, khi bật quạt thông gió không khí mát được lưu chuyển từ đầu đến cuối chuồng kéo theo khí thải ra ngoài. Cần bố trí 1 lớp bạt che chắn cho giàn mát, ban ngày kéo bạt xuống hạn chế sức nóng của không khí trước khi đi vào giàn mát, ban đêm kéo bạt lên 1 nửa cho gió mát vào. Những ngày trời nắng to: bố trí hệ thống vòi phun nước phía đầu giàn mát và trên mái để làm mát cho cả trong và ngoài dãy chuồng. Việc phun nước trên mái không nên phun vào thời điểm nắng nóng nhất vì như vậy sẽ làm gia tăng hơi nóng vào chuồng nuôi, nên phun vào thời điểm trước khi mái chuồng bắt đầu nóng và khi cơn nắng đã dịu đi (sáng từ 9– 11 giờ, chiều từ 3 giờ- tối mát). Khi phun mưa cần lưu ý đến việc tăng cường thông gió và thoát nước xung quanh chuồng → tránh nâng cao độ ẩm hay làm ướt chất độn chuồng. Công tác chăm sóc và quản lý – Đ ảm bảo hệ thống làm mát và quạt gió hoạt động hiệu quả : Chuẩn bị sẵn máy phát điện (đảm bảo đủ công suất) phòng hiện tượng mất điện đột suất không báo trước do quá tải điện năng tiêu thụ tại 1 số địa phương (mất điện cục bộ). – Đảm bảo c huồng trại luôn sạch sẽ, thoáng mát: Đây là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc chống nóng cho gia cầm nói chung và gà nói riêng. Khi nóng, gà thường giảm khả năng hấp thu và tiêu hóa thức ăn, giảm sức đề kháng với các mầm bệnh nên nếu chuồng nuôi bẩn mà nhất là lớp độn chuồng bẩn, gà càng dễ bị bệnh hơn bình thường rất nhiều. Chưa kể, chuồng trại chăn nuôi gà sạch sẽ sẽ giúp giảm đáng kể hơi nóng các khí độc bốc lên từ phân, chất độn chuồng, giảm côn trùng lây bệnh. Hàng ngày phải đảm bảo vệ sinh cơ giới trước khi phun thuốc sát trùng để tăng hiệu quả khử trùng của các loại thuốc sát trùng. – Giãn bớt mật độ nuôi Nên giảm bớt mật độ nuôi khi thời tiết nắng nóng. Mật độ chuồng nuôi cao sẽ gây tăng nhiệt độ trong chuồng (do thân nhiệt của gà cao). Gây hiện tượng kém ăn, đồng thời còn dẫn đến các bệnh về đường hô hấp và mức độ lây nhiễm bệnh rất cao. Tùy từng lứa tuổi gà mà có mật độ nuôi phù hợp: cụ thể khi úm gà đảm bảo 60 – 80 con/1 m 2 . Từ 3 – 6 tuần tuổi cần 7 – 9 con/m2. Gà hậu bị (từ 6 tuần tuổi – 20 tuần tuổi) : giảm từ 7 – 3 con/m2. Đối với gà giống, gà đẻ cần 03 con/m2. Nếu nuôi gà kết hợp chăn thả nên thả gà ra sân chơi sớm để tránh nóng tại các gốc cây bóng mát. – Chú ý đến cách thức và thời gian cho ăn vào những ngày nắng nóng Nhiệt cơ thể tăng 7-12% sau 2 giờ cho ăn và trao đổi chất của thức ăn vào làm tăng phần lớn nhiệt độ cơ thể gia cầm. Vì vậy cho đàn gà trên 30 ngày tuổi nhịn ăn ban ngày, chỉ cho ăn vào sáng sớm và ban đêm, khi thời tiết dịu mát. Đối với gà úm vẫn cho ăn ban ngày như bình thường. Khẩu phần ăn nên giảm lượng thức ăn tinh, tăng thành phần cung cấp đạm, thay thế năng lượng trong thức ăn bằng năng lượng của chất béo là một cách để hạn chế sản sinh nhiệt vì sự giải phóng nhiệt từ tiêu hóa và trao đổi chất của tinh bột cao hơn, xấp xỉ 30% so với chất béo. Bổ sung thêm D,L- methionine làm tăng khả năng tiêu hóa thức ăn trong điều kiện nóng. Tăng số máng ăn (đặc biệt đối với gà thả vườn) sao cho gà không phải mất quá nhiều công sức hay chen chúc để ăn. Đảm bảo luôn luôn có đủ nước mát và sạch cho đàn gà uống: tăng thêm số lượng máng uống (từ 20% trở lên), tránh để nước rơi ra nền chuồng dễ sinh mầm bệnh. Bổ sung vitamin C, điện giải, đường vào trong nước uống để giúp gà giải nhiệt và tăng sức đề kháng trong những ngày nắng nóng. Nên giãn mật độ nuôi gà trong mùa nóng Chống nóng chủ động bằng vaccine, thuốc, vitamin…trong chăn nuôi gà mùa nóng Đây là công tác cần tiến hành theo lịch trình cụ thể và định kỳ, tiêm vaccin vào đúng thời gian khuyến cáo, có thể tránh vào các ngày thời tiết quá nắng nóng. – Tiêm phòng đầy đủ các bệnh nguy hiểm: Cúm gia cầm, Newcastle, Gumboro, Marek, IB…nên tiêm vào sáng sớm và chiều muộn khi trời mát mẻ. – Phun sát trùng định kỳ: 2-3 lần/tuần, nếu phun trực tiếp vào không gian trong chuồng gà phun cách đầu gà khoảng 30 cm trở lên. – Tẩy giun sán, diệt chuột bọ xung quanh trang trại. – Theo dõi hằng ngày để phát hiện sớm gia cầm ốm, có biểu hiện cảm nóng, tiến hành cách ly điều trị xử lý kịp thời tránh lây lan ra toàn đàn → đây là một việc làm vô cùng quan trọng cần lưu ý trong chăn nuôi gà không chỉ trong mùa nóng. – Sau đợt nắng nóng: bổ sung Vitamin và chất dinh dưỡng → tránh để gà thiếu chất, giảm cân, mệt mỏi. – Bổ sung muối ăn, điện giải, B-complex giàu Vitamin C vào trong thức ăn, nước uống để giải nhiệt. Công ty Cổ phần giống gia cầm Lượng Huệ Nguồn: Nhachannuoi

Đọc tiếp
Thế nào là nuôi Heo (lợn) an toàn sinh học? 02-08-2019

Thế nào là nuôi Heo (lợn) an toàn sinh học?

Trước đại dịch tả lợn Châu Phi, rất kỳ lạ là hầu hết các trang trại áp dụng triệt để phương thức chăn nuôi an toàn sinh học đều miễn nhiễm với dịch bệnh nguy hiểm này. Vậy, chăn nuôi an toàn sinh học được hiểu như thế nào? Cần áp dụng phương thức chăn nuôi an toàn sinh học để phòng bệnh và đảm bảo hiệu quả kinh tế. Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia điều kiện trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học, ban hành kèm theo Thông tư số 04/2010 của Bộ NN-PTNT, trong đó có các yêu cầu cơ bản gồm: Vị trí, địa điểm Xây dựng trang trại phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất. Khoảng cách từ trang trại đến trường học, bệnh viện, khu dân cư,… tối thiểu 100 m; cách nhà máy chế biến, giết mổ lợn, chợ buôn bán lợn tối thiểu 1 km. Trang trại phải có nguồn nước sạch và xử lý chất thải theo quy định. Yêu cầu về chuồng trại Trại chăn nuôi phải có tường hoặc hàng rào bao quanh; phải bố trí riêng biệt các khu: chăn nuôi, vệ sinh, tắm rửa, khử trùng, thay quần áo, cách ly lợn ốm,… Cổng ra phải bố trí hố khử trùng. Chuồng nuôi phải bố trí hợp lý. Nền chuồng không trơn trượt, có rãnh thoát nước, độ dốc 3 – 5%... Vách chuồng phải nhẵn. Mái chuồng không bị dột nước khi mưa. Đường thoát nước thải phải kín và không trùng với đường thoát nước khác. Các thiết bị, dụng cụ chứa thức ăn, nước uống không gây độc và dễ vệ sinh. Các kho thức ăn, thuốc thú y, hóa chất và thuốc sát trùng,… thông thoáng, không ẩm thấp và dễ vệ sinh, tiêu độc khử trùng… Yêu cầu về con giống Lợn giống có nguồn gốc rõ ràng, khỏe mạnh, có giấy kiểm dịch và bản công bố tiêu chuẩn chất lượng. Trước khi nhập đàn, lợn phải được nuôi cách ly theo quy định. Lợn giống sản xuất tại cơ sở phải thực hiện công bố tiêu chuẩn, phải được quản lý và sử dụng phù hợp theo quy định hiện hành của Bộ NN-PTNT… Thức ăn, nước uống Thức ăn nuôi lợn phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, không sử dụng thức ăn thừa của đàn lợn đã xuất chuồng, thức ăn của đàn lợn đã bị dịch cho đàn lợn mới. Nước lợn uống phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng. Trong trường hợp phải trộn thuốc, hóa chất vào thức ăn, nước uống nhằm mục đích phòng bệnh hoặc trị bệnh phải tuân thủ thời gian ngừng thuốc, ngừng hóa chất; Không sử dụng kháng sinh, hóa chất trong danh mục cấm… Chăm sóc, nuôi dưỡng Các trại chăn nuôi phải có quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp các loại lợn theo các giai đoạn sinh trưởng phát triển. Mật độ nuôi, cung cấp thức ăn nước uống, vệ sinh thú y phải phù hợp theo quy định hiện hành… Vệ sinh thú y Chất sát trùng tại các hố sát trùng phải bổ sung hoặc thay hàng ngày. Phương tiện vận chuyển, người ra vào khu chăn nuôi phải đi qua hố khử trùng và phải được phun thuốc sát trùng. Phun thuốc sát trùng lối đi trong khu chăn nuôi và các dãy chuồng nuôi ít nhất 1 lần/tuần khi không có dịch bệnh, và ít nhất 1 lần/ngày khi có dịch bệnh... Định kỳ phát quang bụi rậm, khơi thông và vệ sinh cống rãnh trong khu chăn nuôi ít nhất 1 lần/tháng. Phải vệ sinh máng ăn, máng uống hàng ngày. Có biện pháp để kiểm soát côn trùng, loài gặm nhấm và động vật khác (nếu có) trong khu chăn nuôi. Tiêm phòng cho đàn lợn theo quy định... Xử lý chất thải và bảo vệ môi trường Các trại chăn nuôi bắt buộc phải có hệ thống xử lý chất thải trong quá trình chăn nuôi. Chất thải rắn phải được thu gom hàng ngày và xử lý bằng nhiệt, hoặc bằng hóa chất, hoặc bằng chế phẩm sinh học phù hợp. Các chất thải lỏng phải dẫn trực tiếp từ chuồng nuôi đến khu xử lý bằng đường thoát riêng. Chất thải lỏng phải được xử lý bằng hóa chất hoặc bằng phương pháp xử lý sinh học phù hợp… Ngoài ra, các trang trại chăn nuôi phải có chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy và thường xuyên được giám sát và xử lý vi phạm theo quy định… Nguồn: Nongnghiep.vn

Đọc tiếp
Cách phòng tránh Bệnh Lợn Gạo (Sán dây lợn) 02-08-2019

Cách phòng tránh Bệnh Lợn Gạo (Sán dây lợn)

Bệnh gạo lợn do sán dây Taenia spp. gây ra ở lợn, được tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) xếp hạng nguy hiểm nhất trong các bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa động vật và người qua thực phẩm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cộng đồng, kinh tế xã hội và thương mại. 1. TÁC NHÂN GÂY BỆNH Bệnh gạo lợn (Porcine Cysticercosis) do ấu trùng Cysticercus cellulosae (C. cellulosae) gây ra, ấu trùng tạo thành các kén ký sinh ở cơ vân, não ở lợn và ở người. Kén trông giống như hạt gạo nếp nên gọi là “Bệnh gạo lợn”. C. cellulosae là ấu trùng của loài sán dây Taenia solium, sán trưởng thành ký sinh ở ruột non của người. Ngoài ra, ấu trùng C. cellulosae còn ký sinh ở lợn rừng, chó và khỉ (Fan, 1988; Wandra et al., 2015). Ở người, ấu trùng sán Taenia solium ký sinh ở cơ vân, cầu mắt, cơ tim và não. Ấu trùng C. cellulosae có hình bầu dục, giống hạt gạo, kích thước mỗi ấu trùng khoảng 2 x 1,6 đến 8,6 x 3,8 mm, tỷ lệ chiều dài/rộng là 1,7/1; mỗi ấu trùng cấu tạo bên ngoài là lớp màng mỏng, bên trong chứa dịch trong; đầu sán màu trắng lộn vào trong, có 2 hàng móc, mỗi hàng có 11 - 16 móc (Fan, 1988). Sán dây Taenia solium có chiều dài biến đổi từ 1,5 m - 8 m, gồm 700 đến 1.000 đốt. Đốt sán màu trắng đục ngả vàng. Đốt trưởng thành chứa trung bình 446 tinh hoàn, buồng trứng được chia làm 3 thùy. Đốt sán chứa 5 - 11 nhánh tử cung, lỗ sinh dục đổ ra một bên (Fan, 1988). Đốt đầu gồm 4 giác bám có hai hàng móc, mỗi hàng gồm 11 - 16 móc; móc lớn dài 0,14 - 0,2 mm; móc nhỏ dài 0,09 - 0,16 mm (Loos - Frank, 2000). Đốt sán trưởng thành và Đầu của sán trưởng thành Bệnh gạo lợn và sán dây Taenia solium phân bố ở tất cả các châu lục; lưu hành với tỷ lệ cao, hình thành các ổ dịch địa phương tại các nước phát triển ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La tinh, đặc biệt là những nơi người dân có điều kiện kinh tế kém phát triển, có phong tục nuôi lợn thả rông, ăn thịt lợn tái, sống. Tại Việt Nam, bệnh gạo lợn và sán dây phân bố 50/63 tỉnh, thành trong cả nước. Các nghiên cứu trước năm 1990 cho biết tỷ lệ nhiễm gạo lợn biến đổi tùy theo vùng miền và giảm dần theo thời gian nghiên cứu. Những năm đầu thế kỷ 21, tỷ lệ lợn và người nhiễm gạo giảm rõ rệt với 1 - 7,2% ở người và 0,03 - 0,9% ở lợn (Somers và cs., 2006; Van De và cs., 2014). Các ấu trùng hình hạt gạo trong thịt (nguồn: Báo Dân Trí) 2. VÒNG ĐỜI Sán trưởng thành sống trong ruột non của vật chủ là người, chó và mèo, các đốt sán chứa đầy trứng, già thì rụng, theo phân ra ngoài tự nhiên rồi vỡ, giải phóng hàng vạn quả trứng. Lợn và người ăn phải trứng sán dính vào rau xanh hay cỏ trong ao hồ, trứng sán vào ruột sẽ nở thành ấu trùng, xuyên qua niêm mạc ruột, vào máu rồi di hành đến các nội tạng của vật chủ như gan, não, cơ tim, gốc lưỡi, cơ hoành cách, cơ mông, vai để tạo ra các nang ấu trùng. Nang ấu trùng có màu trắng đục kích thước 5-10 x 5-20mm trông giống hạt gạo nếp, trong nang có đầu ấu trùng và hàng móc bao quanh. Thời gian từ khi trứng nở đến khi hình thành ấu trùng trung bình là 60 ngày, ấu trùng có thể sống tại đó tối thiểu là một năm, dài nhất là 3-6 năm mới chết và tạo ổ can xi hóa. Người và các loài thú ăn thịt sống có mang ấu trùng sán sẽ bị nhiễm. Ấu trùng vào đến dạ dày, xuống ruột non sẽ ra khỏi nang phát triển thành sán dây trưởng thành sau khoảng 2 tháng nữa. 3. BỆNH LÝ LÂM SÀNG 3.1. BỆNH Ở ĐỘNG VẬT Lợn nhiễm ấu trùng C. Cellulosae hầu như không biểu hiện rõ triệu chứng lâm sàng; chỉ khi lợn bị nhiễm nặng mới có một số biểu hiện thoáng qua của triệu chứng thần kinh và khó khăn trong vận động. Lợn có ấu trùng ký sinh ở não có một số triệu chứng không điển hình như: lười vận động, biểu hiện chậm chạp, thẫn thờ, rối loạn vận động nhẹ (Abuseir & cs., 2006). Ấu trùng C. Cellulosae có thể tìm thấy ở não, cơ đùi, cơ liên sườn, cơ hoành, cơ lưỡi, cơ bụng, cơ tim, cơ cổ, màng treo ruột, bề mặt gan và ở dạng còn sống hay can xi hóa. Tuy nhiên các cơ quan có thể tìm thấy ấu trùng C. Cellulosae với tần suất cao là cơ lưỡi, cơ hoành, cơ đùi và não. Đây là những vị trí bắt buộc trong kiểm tra gạo lợn tại các cơ sở giết mổ. Các ấu trùng thoái hóa có dạng canxi hóa khô hay hóa ướt (dạng phomat); vùng viêm xung quanh mở rộng với các tế bào lympho, bạch cầu ái toan và đại thực bào (Fleury et al., 2015; Mkupasi et al., 2015). 3.2. BỆNH Ở NGƯỜI 3.2.1. Bệnh do sán dây lợn trưởng thành 3.2.1.1. Nguyên nhân: Do người ăn phải thịt "lợn gạo" còn sống thì ấu trùng sán vào ruột nở ra sán dây trưởng thành. Sán dây trưởng thành (Nguồn: Cục Y tế dự phòng) 3.2.1.2. Triệu chứng lâm sàng Bệnh thường không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng rõ rệt, một số trường hợp có biểu hiện lâm sàng: đau bụng, đau tức vùng thượng vị, rối loạn tiêu hóa hoặc có triệu chứng thần kinh (suy nhược); dấu hiệu chính là thấy đốt sán ra theo phân, những đoạn nhỏ, dẹt, trắng ngà như sơ mít, đầu sán bằng phẳng và một số trường hợp có trứng sán trong phân được phát hiện. 3.2.1.3. Chẩn đoán Phát hiện kháng nguyên trong phân bằng kỹ thuật Elisa. Soi phân tìm đốt sán trưởng thành, hoặc tìm trứng sán. 3.2.2. Bệnh do ấu trùng sán lợn 3.2.2.1. Nguyên nhân gây bệnh: Người bị bệnh do ăn phải trứng sán dây lợn, trứng vào dạ dày và ruột nở ra ấu trùng, ấu trùng xuyên qua thành ống tiêu hóa vào máu và di chuyển đến ký sinh ở các cơ vân, ở não, ở mắt... Những người bị nhiễm sán dây lợn trưởng thành trong ruột, khi đốt già rụng, do phản nhu động ruột mà đốt sán trào ngược lên dạ dày. Trường hợp này coi như là ăn phải trứng sán dây lợn với số lượng vô cùng lớn từ đốt sán và số nang ở người cũng rất nhiều. Bệnh ấu trùng sán lợn (Cysticercosis) là do những ấu trùng sán lợn ký sinh ở trong cơ, trong não, trong mắt người gây nên. Chu trình truyền lây T. solium (Nguồn: Bệnh truyền lây giữa động vật và người – Học viện NN VN) 3.2.2.2. Triệu chứng Ấu trùng sán thường hình thành nang ấu trùng có thể thấy bất cứ nơi nào trong cơ thể bệnh nhân. Tùy theo số lượng nang ấu trùng và vị trí của nang mà người bệnh có biểu hiện lâm sàng nặng, nhẹ khác nhau hoặc có thể gây tử vong. Bệnh có thể xuất hiện với những triệu chứng khác nhau. Tại não: Cũng tùy thuộc vị trí ấu trùng cư trú mà triệu chứng biểu hiện cũng khác nhau, như: động kinh, liệt, nói ngọng, rối loạn ý thức và có những cơn nhức đầu dữ dội (tăng áp lực nội sọ). Khi ấu trùng cư trú ở mắt sẽ có nang trong mí mắt, hốc mắt, kết mạc. Tùy vị trí nang sán mà có các triệu chứng như chèn ép sau nhãn cầu, tăng nhãn áp, giảm thị lực, chảy nước mắt, song thị, mù. Ấu trùng cư trú ở cơ vân: Xuất hiện các nang dưới da với kích thước 0,5 - 2 cm, di động dễ dàng, không ngứa; nang thường ở bắp tay, chân hoặc cơ liên sườn, cơ lưng, ngực; các nang này có thể gây ra triệu chứng máy, giật cơ, đau đầu mạn tính. Nang ấu trùng ở cơ tim có thể làm tim đập nhanh, tiếng tim biến đổi, người bệnh có dấu hiệu khó thở, ngất xỉu. 3.2.2.3. Chẩn đoán Sinh thiết các nang dưới da tìm ấu trùng sán. Chụp cắt lớp (CT Scanner) não tìm các hình ảnh đặc hiệu (các nang sán là những nốt dịch có chấm mờ, kích thước 3 - 5 mm, đôi khi nang lớn có kích thước đến 10 mm, rải rác có nốt dạng vôi hóa), chụp cộng hưởng từ MRI cho hình ảnh rõ hơn. Chẩn đoán huyết thanh học ELISA phát hiện kháng thể và kháng nguyên ấu trùng trong huyết thanh bệnh nhân. Một số trường hợp nhức sau nhãn cầu, tăng nhãn áp, giảm thị lực nếu nghi ngờ ấu trùng ở ổ mắt thì nên soi đáy mắt để xác định. Xét nghiệm công thức máu toàn phần, thấy bạch cầu ái toan (EOS) tăng. 4. PHÒNG BỆNH, KIỂM SOÁT VÀ ĐIỀU TRỊ 4.1. Phòng bệnh, kiểm soát và điều trị ở động vật 4.1.1. Phòng bệnh Thực hiện việc kiểm soát giết mổ đúng quy trình tại các cơ sở giết mổ nhằm đảm bảo không có lợn gạo được đưa ra thị trường tiêu thụ; nếu phát hiện thân thịt có gạo phải tiêu hủy. Lợn cần được nuôi nhốt; chuồng trại cần xây dựng cách biệt với khu vệ sinh của con người. Thực hiện việc tiêm phòng ngừa bệnh gạo cho lợn. 4.1.2. Trị bệnh Việc sử dụng thuốc điều trị gạo lợn chưa được phổ biến; tuy nhiên một số hóa dược có thể được sử dụng như: albendazole, praziquantel hay oxfendazole. Trong đó oxfendazole cho hiệu quả điều trị cao nhất. Các thí nghiệm cho thấy sử dụng oxfendazole liều lượng 30 - 50mg/kgP có thể tiêu diệt hoàn toàn ấu trùng C.cellulosae sau 8 - 12 tuần (Gonzales & cs., 1996; Gonzalez & cs., 1997; Mkupasi & cs., 2013). 4.2. Phòng bệnh, kiểm soát và điều trị ở người 4.2.1. Điều trị Nguyên tắc điều trị: Điều trị sớm: Cần thiết chẩn đoán sớm và điều trị ngay khi phát hiện có đốt sán ra theo phân để tránh những biến chứng. Không nên điều trị bằng thuốc đông y, thuốc nam hoặc các thuốc cổ điển vì dễ xảy ra biến chứng nguy hiểm. Điều trị bệnh ấu trùng sán lợn nên điều trị ở các cơ sở có trang bị phương tiện cấp cứu tốt, có bác sĩ chuyên khoa theo dõi. 4.2.2. Phòng bệnh và kiểm soát - Đối với bệnh do sán dây lợn trưởng thành: Không ăn thịt lợn, gan lợn chưa nấu chín, không ăn các món ăn như: nem, thính, nem chua, thịt lợn tái, gan tái. - Đối với bệnh ấu trùng sán dây lợn (gạo lợn): Không ăn rau sống, uống nước lã, quản lý phân, chất thải, nhất là phân của người bị nhiễm sán dây lợn; phát hiện và điều trị sớm những người bị mắc sán dây, xử lý những con sán được tẩy ra để ngăn ngừa mắc bệnh ấu trùng sán dây theo cơ chế tự nhiễm. - Các ngành chức năng phải kiểm tra chặt chẽ quy trình giết mổ, kiểm tra phát hiện và loại bỏ ngay các con vật mang ấu trùng sán; sử dụng hố xí hợp vệ sinh, không để lợn thả rông ăn phân người. Không được xả phân lợn tươi ra môi trường mà phải ủ để diệt đốt sán và trứng sán. PGS.TS NGUYỄN BÁ HIÊN (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) Nguồn: Nongnghiep.vn

Đọc tiếp
Quy trình chăn nuôi lợn An Toàn Sinh Học 02-08-2019

Quy trình chăn nuôi lợn An Toàn Sinh Học

Bộ NN-PTNT vừa ban hành Công văn số 5329/BNN-CN gửi các địa phương về việc tăng cường một số biện pháp kỹ thuật tổng hợp về an toàn sinh học trong chăn nuôi lợn để phòng, chống bệnh dịch tả lợn Châu Phi. Lãnh đạo Bộ NN-PTNT kiểm tra mô hình chăn nuôi lợn Một số biện pháp kỹ thuật tổng hợp Thực hiện Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày ngày 18/6/2019 của Chính phủ về việc triển khai một số giải pháp cấp bách trong phòng, chống bệnh dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) theo tinh thần chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng tại Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 20/5/2019, để phòng chống bệnh DTLCP, Bộ NN-PTNT khuyến cáo một số biện pháp kỹ thuật tổng hợp về an toàn sinh học trong chăn nuôi lợn để phòng, chống bệnh (DTLCP) như sau: Với chuồng trại và trang thiết bị chăn nuôi, công văn số 5329 do Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến ký, yêu cầu kiểm soát chặt chẽ người và động vật ra vào khu vực chăn nuôi. Chuồng nuôi phải dễ thực hiện các biện pháp vệ sinh, sát trùng, tiêu độc, phòng bệnh. Có lưới bao xung quanh chuồng nuôi và biện pháp khác ngăn chặn côn trùng và vật chủ trung gian khác truyền bệnh, như chuột, chim, ruồi, muỗi… Tại lối ra vào chuồng nuôi phải bố trí hố khử trùng, thay bảo hộ lao động cho người ra, vào khu vực chăn nuôi. Nên có ô chuồng nuôi cách ly nuôi lợn mới nhập hoặc nuôi lợn bị bệnh. Có khu vực thu gom và xử lý chất thải, nếu có điều kiện thì nuôi theo phương pháp cách ô (mỗi ô chuồng có khoảng trống 0,8-1m) để giảm thiểu lợn giữa các ô chuồng tiếp xúc với nhau. Không sử dụng chung dụng cụ chăn nuôi giữa các chuồng. Đường thoát nước thải từ chuồng nuôi đến khu xử lý chất thải đảm bảo kín. Nước thải ô chuồng nào thoát riêng ô chuồng đó ra đường thoát nước chung. Yêu cầu về con giống, lợn nhập về nuôi phải có nguồn gốc rõ ràng, khoẻ mạnh. Đối với lợn nhập từ ngoài tỉnh phải có Giấy kiểm dịch, trước khi nhập đàn, nuôi cách ly ít nhất 2 tuần. Với thức ăn và nước uống, sử dụng thức ăn có nguồn gốc rõ ràng, không bị hỏng, mốc và còn hạn sử dụng, đảm bảo chất lượng và an toàn. Trường hợp sử dụng thức ăn tận dụng phải được xử lý nhiệt trước khi cho ăn. Không sử dụng thức ăn thừa trong máng ăn của đàn lợn đã xuất chuồng và thức ăn của đàn lợn đã bị dịch bệnh cho đàn lợn mới. Phải sử dụng thức ăn có nguồn gốc rõ ràng cho lợn Nguồn nước cho chăn nuôi lợn phải đảm bảo an toàn. Nên bổ sung chế phẩm sinh học trong thức ăn để tăng khả năng tiêu hóa, sức đề kháng cho lợn. Chăm sóc, nuôi dưỡng, áp dụng phương thức quản lý "cùng vào-cùng ra" theo thứ tự ưu tiên: dãy chuồng, ô chuồng. Có quy trình chăn nuôi phù hợp với từng loại lợn theo các giai đoạn sinh trưởng, phát triển. Nên áp dụng phương thức nuôi khô, không sử dụng nước tắm cho lợn. Sử dụng các chế phẩm sinh học trong nước uống, độn chuồng và định kỳ phun sương trong chuồng nuôi theo hướng dẫn của nhà sản xuất để tăng cường phòng, chống dịch. Vệ sinh chăn nuôi và kiểm soát người ngoài ra, vào chuồng nuôi theo hướng hạn chế tối đa người ngoài ra, vào khu vực chuồng nuôi. Trước và sau khi vào, ra khu chăn nuôi phải thay bảo hộ lao động, sát trùng tay, nhúng ủng hoặc giầy, dép vào hố khử trùng. Chất sát trùng tại các hố sát trùng ở cổng ra vào khu chăn nuôi, chuồng nuôi phải bổ sung hoặc thay hàng ngày, cần thay đổi các loại chất sát trùng để tăng hiệu quả sát trùng. Định kỳ phun thuốc sát trùng xung quanh khu chăn nuôi, chuồng nuôi ít nhất 2 lần/tuần; Phun thuốc sát trùng trong chuồng nuôi ít nhất 1 lần/tuần khi không có dịch bệnh, và ít nhất 2 lần/tuần khi có dịch bệnh; Phun thuốc sát trùng trên lợn ít nhất 2 lần/tuần khi có dịch bệnh bằng các dung dịch sát trùng thích hợp theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Định kỳ phát quang bụi rậm, khơi thông và vệ sinh cống rãnh ngoài chuồng nuôi ít nhất 2 lần/tháng. Phải vệ sinh máng ăn, máng uống hàng ngày. Thiết bị, dụng cụ và phương tiện phục vụ trong chăn nuôi phải được tiêu độc khử trùng thường xuyên. Sau mỗi đợt nuôi phải làm vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng, dụng cụ chăn nuôi và để trống chuồng ít nhất 7 ngày trước khi đưa lợn vào nuôi. Trong trường hợp chuồng bị dịch, nếu tái đàn nên để trống chuồng ít nhất 30 ngày và được sự đồng ý của chính quyền địa phương. Kiểm soát phương tiện vận chuyển, trang thiết bị, dụng cụ chăn nuôi không để các phương tiện như xe máy, xe đạp, xe đẩy, xe thồ… trong khu chuồng nuôi lợn. Phương tiện vận chuyển trước và sau khi vào chuồng nuôi phải được khử trùng, tiêu độc. Đặc biệt, không để phương tiện vận chuyển của thương lái, phương tiện vận chuyển thức ăn đến khu vực nuôi lợn. Phương tiện vận chuyển phải dừng ở bên ngoài để vệ sinh, sát trùng, tiêu độc và sử dụng xe nội bộ của khu chuồng nuôi để vận chuyển. Nên có phương tiện vận chuyển chuyên dụng, trường hợp dùng chung thì phải vệ sinh, tiêu độc, khử trùng trước khi sử dụng. Chất thải được gom để xử lý phải để cuối chuồng, xa khu chuồng nuôi, xa nơi cấp nước. Chất thải phải được thu gom hàng ngày, chuyển đến nơi tập trung và xử lý bằng nhiệt, hoặc bằng hoá chất, hoặc xử lý bằng sinh học phù hợp. Chất thải rắn trước khi đưa ra ngoài phải được xử lý đảm bảo vệ sinh theo quy định hiện hành của thú y. Các chất thải lỏng phải được dẫn trực tiếp từ các chuồng nuôi đến khu xử lý bằng đường thoát riêng. Chất thải lỏng phải được xử lý bằng hoá chất hoặc bằng phương pháp xử lý sinh học phù hợp. Với quản lý dịch bệnh, có quy trình phòng bệnh phù hợp từng loại lợn và thực hiện đúng quy trình. Trong trường hợp có dịch, phải khai báo chính quyền địa phương và thực hiện đầy đủ các quy định hiện hành về phòng, chống dịch. Cách ly lợn ốm để có biện pháp xử lý kịp thời, ngừng xuất lợn giống và kiểm soát chặt việc xuất sản phẩm, vật tư trong khu chăn nuôi lợn ra ngoài theo quy định. Khi xảy ra dịch tại ô chuồng hay cả chuồng cần tiêu độc, khử trùng tại chỗ: Cần che bạt, bao vây kín ô chuồng hoặc cả chuồng, với lợn nuôi con loại ngay nái và toàn bộ lợn con, đối với các loại lợn khác loại toàn bộ ô chuồng hoặc cả chuồng nếu dịch xảy ra cả chuồng hoăc cả ô chuồng, lợn bệnh phải tiêu hủy theo hướng dẫn của cơ quan thú y. Không rửa ngay ô chuồng hoặc chuồng lợn bị bệnh, tiến hành che bạt, bao vây kín, phun chất sát trùng đẫm gấp 2 lần bình thường liên tục 3-4 ngày, sau đó rửa lại bằng nước sạch, tránh làm bắn nước sang ô chuồng hoặc chuồng kế bên, tiếp tục phun sát trùng 2-3 ngày. Bao bì, dụng cụ đựng thức ăn của đàn lợn bị dịch bệnh phải được tiêu độc, khử trùng. Thực hiện ghi chép và lưu giữ nhật ký chăn nuôi. Trang trại chăn nuôi lợn phải lập sổ, ghi chép theo dõi và lưu trữ các thông tin trong quá trình chăn nuôi. Chủ trang trại phải tổ chức tiến hành kiểm tra việc thực hiện công tác an toàn sinh học định kỳ. Kiểm soát chặt chẽ người ra vào tại trang trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học Khuyến cáo sử dụng chế phẩm vi sinh Nguyên tắc sử dụng thức ăn có bổ sung chế phẩm vi sinh, bao gồm chế phẩm probiotic (lợi khuẩn) và enzyme. Khi bổ sung chế phẩm vi sinh là probiotic thì không nên dùng kháng sinh vì kháng sinh làm mất tác dụng của vi sinh vật và giảm hiệu quả sử dụng thức ăn. Cơ sở chăn nuôi có thể tự trộn thức ăn tại trại hoặc sử dụng thức ăn công nghiệp mua từ cơ sở sản xuất có uy tín, đảm bảo chất lượng và có thể truy xuất nguồn gốc. Các biện pháp an toàn sinh học phải luôn đảm bảo theo quy trình hướng dẫn của cơ quan chuyên môn hoặc nhà cung cấp sản phẩm. Hướng dẫn sử dụng thức ăn có bổ sung chế phẩm vi sinh. Giai đoạn 1 (lợn có khối lượng dưới 20 kg): Ở giai đoạn này, cơ sở chăn nuôi nên sử dụng thức ăn công nghiệp mua từ những cơ sở sản xuất có uy tín, đảm bảo chất lượng và an toàn được được bổ sung sẵn chế phẩm vi sinh theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Giai đoạn 2 (lợn có khối lượng từ 20 kg trở lên): Ở giai đoạn này có thể sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh hoặc thức ăn tự phối trộn. Thức ăn tự phối trộn từ những nguyên liệu thông dụng, sẵn có tại địa phương, không nên sử dụng nguyên liệu thức ăn có nguồn gốc động vật (ngoại trừ bột cá). Trước khi chế biến, cơ sở cần lập công thức thức ăn (khẩu phần cơ sở) theo từng giai đoạn sinh trưởng đảm bảo đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho lợn. Bước 1: Lựa chọn nguyên liệu thức ăn trước khi sản xuất - Cần chọn nguyên liệu đảm bảo chất lượng, nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Nguyên liệu phải mới, khô, không bị mốc. Không mua quá nhiều nguyên liệu để dự trữ tại cơ sở chăn nuôi. - Nguyên liệu bảo quản ở nơi khô ráo, cách xa chuồng nuôi. Kiểm tra chất lượng nguyên liệu theo định kỳ. Bước 2: Phối trộn thức ăn (khẩu phần cơ sở) Tùy theo loại nguyên liệu thức ăn sử dụng, cơ sở lập công thức thức ăn theo nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi theo các giai đoạn sinh trưởng và phát triển phù hợp hoặc từ khi bắt đầu cho ăn thức ăn có bổ sung chế phẩm vi sinh đến khi xuất chuồng. Bước 3: Sử dụng chế phẩm vi sinh trong khẩu phần cơ sở, tùy theo khuyến cáo của nhà sản xuất về sử dụng chế phẩm vi sinh trong khẩu phần cơ sở mà cơ sở chăn nuôi có thể áp dụng quy trình ủ thức ăn trước khi cho ăn hoặc cho ăn trực tiếp. ( Nguồn: Nongnghiep.vn) ------------------------------------------------------------------------------------ Dưới đây là hướng dẫn các bước tự sản xuất thức ăn chăn nuôi và sử dụng chế phẩm vi sinh trong thức ăn chăn nuôi tại cơ sở chăn nuôi Theo công thức của R.E.P Biotech không dùng đạm động vật: ------------------------------------------------------------ Sử dụng chế phẩm vi sinh là NUTRILACZYM (Probiotics) Kiểm soát nguồn nước pH bằng BioCID Plus Hãy inbox cho chúng tôi trên Fanpage R.E.P Biotech ( https://www.facebook.com/congnghesinhhoc.rep/ ) để đươc tư vấn về Cám Sinh Học ( hay Cám Thảo Dược) - Grow / Super Grow với Công thức cụ thể và mang lại hiệu quả tốt nhất.

Đọc tiếp
Kỹ thuật chống nóng cho gia súc 29-07-2019

Kỹ thuật chống nóng cho gia súc

Vào mùa hè thời tiết oi bức với những đợt nắng nóng kéo dài, nhiệt độ cao (có ngày lên đến 40 độ) làm ảnh hưởng đến sức khỏe đàn gia súc, nguy cơ bùng phát dịch bệnh rất cao. Do vậy để giảm thiểu thiệt hại do nắng nóng gây ra, theo khuyến cáo của các nhà khoa học, người chăn nuôi cần thực hiện tốt một số biện pháp chống nóng cho đàn gia súc. Chuồng trại Đảm bảo nhiệt độ trong chuồng từ 22 - 25 0 , ẩm độ không quá 75%. Tùy theo quy mô và điều kiện của người chăn nuôi, có thể sử dụng hệ thống dàn mát và quạt hút cho chuồng trại để điều chỉnh nhiệt độ dễ dàng, cần chú ý kiểm tra điện hàng ngày không để mất điện hoặc trục trặc kỹ thuật trong chuồng nuôi. Lắp đặt hệ thống giàn phun mưa cả trên mái và trong chuồng cho vật nuôi. Hệ thống giàn phun tốt nhất nên lắp hệ thống tự động để đảm bảo chất lượng giàn phun cũng như lượng nước phun trong chuồng. Những nơi chưa có điều kiện lắp giàn phun có thể dùng các cây dây leo như bìm bìm, mướp, nhót, sắn dây… leo trên mái làm mát tự nhiên cũng rất tốt. Làm hệ thống bạt che nắng để che chắn trực tiếp, nắng đến đâu che bạt đến đó. Đây là biện pháp hữu ích thực tế đã nhiều người áp dụng và rất có hiệu quả. Cần chú ý kịp thời khi có giông, bão, lốc mưa lớn không để các vật liệu trên bị đổ hoặc tạo sức nặng cho mái chuồng nuôi làm ảnh hưởng trực tiếp đến vật nuôi. Những ngày nắng nóng, người nuôi cần để ý chuồng trại thường xuyên - Ảnh: CTV Vật nuôi Quan sát và điều chỉnh giảm mật độ vật nuôi trong chuồng. Với heo, gia cầm cần cải tạo bổ sung các ô chuồng mới để giảm mật độ nuôi. Với trâu bò, chỉ cần đưa trâu bò ra nhốt ở những nơi có bóng mát. Luôn đảm bảo đầy đủ lượng nước uống và dùng chất điện giải pha cho vật nuôi uống tránh mất nước, vừa bổ sung các loại vitamin, khoáng chất sẽ tăng đề kháng cho vật nuôi. Những ngày nắng nóng cao điểm, nên bổ sung các máng uống và thường xuyên vệ sinh sạch sẽ để đảm bảo con vật được uống đủ lượng nước sạch. Giảm khẩu phần ăn về buổi trưa, tăng bù vào chiều mát, sáng sớm và đêm. Trong khẩu phần ăn tăng cường thành phần thức ăn xanh như rau cỏ tươi, củ quả… tăng cường khẩu phần đạm giảm tinh bột, mỡ, đường trong khẩu phần ăn. Định kỳ tắm cho vật nuôi để giảm nhiệt cho cơ thể và phòng chống các bệnh ngoài da. Phòng bệnh Thời tiết càng nắng nóng càng cần vệ sinh tẩy uế chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi, nền chuồng luôn phải sạch sẽ khô ráo, cống rãnh không đọng phân và nước, nhằm hạn chế phát sinh ruồi, muỗi. Phun nước làm sạch chuồng trại những ngày này cần phun diện tích rộng cả trong và ngoài chuồng. Đồng thời tăng số lần dùng nước phun rửa trong ngày lên 2 - 3 lần/ngày. Đặc biệt sau khi vệ sinh cơ giới vẫn phải đảm bảo phun thuốc sát trùng định kỳ và thuốc diệt côn trùng để ngăn chặn mầm bệnh. Chuồng nuôi sạch sẽ làm một biện pháp làm mát cho vật nuôi rất hiệu quả. Ngoài những biện pháp kể trên thì yếu tố kinh nghiệm của người chăn nuôi cũng rất quan trọng. Kinh nghiệm cho thấy người chăn nuôi cần chủ động theo dõi thông tin dự báo thời tiết từ hôm trước và sáng sớm hôm sau để lên kế hoạch cụ thể về che chắn chuồng trại, chủ động nguồn thức ăn nước uống, kiểm tra hệ thống điện trong chuồng nuôi. Quan trọng hơn là để kịp thời đối phó với những cơn giông, lốc và những trận mưa lớn xuất hiện đột xuất trong ngày tránh để vật nuôi bị nhiễm lạnh hay mắc bệnh. Nguồn: Nguoichannuoi

Đọc tiếp
popup

Số lượng:

Tổng tiền: