Cách phòng trị bệnh Trứng trắng trên đàn cút đẻ 18-07-2019

Cách phòng trị bệnh Trứng trắng trên đàn cút đẻ

Bệnh trứng trắng, mỏng vỏ hoặc chỉ có vỏ lụa diễn ra khá phổ biến trên đàn chim cút đẻ. Tình trạng này ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng trứng, làm tăng chi phí và giảm thu nhập của các hộ chăn nuôi. Đây chính nỗi bận tâm, lo lắng của nhà chăn nuôi. Nguyên nhân Có hai nhóm nguyên nhân chính, bà con cần phân biệt để có cách xử lý tốt để hạn chế thiệt hại, đó là: 1. Nhóm nguyên nhân không lây nhiễm: - Stress do thời tiết thay đổi (quá nóng/quá lạnh), mùi hôi chuồng trại, độ thông thoáng kém, ẩm độ cao… - Dinh dưỡng không cân đối, tiêu hóa và hấp thu của đàn chim cút có vấn đề. - Nhiễm độc độc tố nấm mốc và các loại hóa chất khác như thuốc diệt côn trùng… - Thoái hóa đàn do trùng huyết, cận huyết dẫn tới suy giảm miễn dịch và tác động năng suất. 2. Nhóm nguyên nhân lây nhiễm: - Các bệnh do virus như dịch tả, IB, cúm… - Các bệnh do vi khuẩn, mycoplasma, nấm như E.coli, Bạch lỵ,CRD, nấm nội tạng… Cách phòng trị 1. Chọn những cơ sở cung cấp con giống có uy tín để hạn chế tình trạng đồng huyết, cận huyết. 2. Chăm sóc tốt đàn chim cút ngay từ những ngày đầu nhập chuồng. Cố gắng cùng vào/cùng ra trên một khu chuồng nuôi. Thực hiện các biện pháp an toàn sinh học như dọn dẹp vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, chống côn trùng, chuột, thú nuôi…Phun thuốc sát trùng định kỳ, sát trùng các phương tiện và dụng cụ trước khi đưa vào trại. Do không có vaccine riêng dành cho chim cút nên một số trại đã dùng vaccine của gà để chủng ngừa các bệnh như IB, ND… nhưng hiệu quả thường không cao. 3. Tạo môi trường tiểu khí hậu chuồng nuôi tốt, Chống nóng vào mùa nắng, không để mưa tạt, gió lùa vào mùa mưa. Nuôi mật độ vừa phải để đảm bảo thông thoáng. 4. Kiểm soát chất lượng thức ăn, bảo quản tốt nguyên liệu và thức ăn thành phẩm để hạn chế ẩm mốc, giảm chất lượng và giá trị dinh dưỡng. 5. Chủ động nâng cao sức khỏe miễn dịch không đặc hiệu của đàn bằng cách bổ sung các chế phẩm dinh dưỡng và chức năng như Vitapro, Catofos, Sudsy C30%, Replyte … 6. Chẩn đoán chính xác nguyên nhân để đưa ra phương án xử lý phù hợp. Đối với nhóm bệnh do vi khuẩn, nấm hoặc mycoplasma thì dùng kháng sinh và hóa dược để điều trị. Đối với nhóm bệnh do virus thì có thể dùng kháng thể đa giá, kết hợp với vitamin, các sản phẩm tăng cường miễn dịch không đặc hiệu khác như Catofos để hỗ trợ. Phòng kỹ thuật R.E.P Biotech JSC Nguyễn Đình Trung

Đọc tiếp
Cách cung cấp đủ nước cho heo 17-07-2019

Cách cung cấp đủ nước cho heo

Có một nguồn nước sạch cung cấp liên tục là một vấn đề vô cùng quan trọng trong chăn nuôi heo và ở nhiều quốc gia thì đó là một điều kiện mà luật pháp quy định. Các nghiên cứu được đăng trên tạp chí BPEX đã hướng dẫn; giải thích các vấn đề về việc làm thế nào để thiết lập được hệ thống nước, cần bao nhiêu nước cho trang trại của bạn và chất lượng của nước như thế nào. Nước là một yếu tố quan trọng trong hầu hết tất cả các chức năng của cơ thể bao gồm điều chỉnh nhiệt độ, hấp thu các chất dinh dưỡng, bài tiết chất thải và phát triển mô. Hơn 80% cơ thể của heo con sơ sinh là nước trong khi đó ở heo xuất chuồng là 55%. Việc thiếu nước nghiêm trọng có thể dẫn đến heo chết; thậm chí mất nước với số lượng nhỏ có thể dẫn tới giảm lượng thức ăn thu nhận, tăng trọng trên ngày giảm, chuyển đổi thức ăn kém hơn, giảm sản lượng sữa và trọng lượng cai sữa thấp. Khi hiệu suất của vật nuôi giảm thì vấn đề về thức ăn thường được điều tra đầu tiên mà bỏ qua việc kiểm tra lại nguồn nước. Ở nước Anh, đây là một vấn đề liên quan đến pháp luật mà ở đó tất cả các vật nuôi được tiếp nhận nguồn nước chất lượng tốt. Phúc lợi của động vật nuôi quy định năm 2007 và các khuyến nghị cho vật nuôi: “ Heo trên hai tuần tuổi phải có quyền sử dụng liên tục một lượng nước vừa đủ và sạch”. Sử dụng nguồn nước như thế nào ? – Đảm bảo mật độ vật nuôi và vị trí uống nước (bảng 1) – Nên có nhiều hơn một vòi nước trong một ô chuồng để tránh trường hợp vòi nước bị hỏng hoặc nhiều heo trong chuồng cùng khát nước. – Hằng ngày kiểm tra vòi nước để đảm bảo bảo đủ nước và sạch sẽ. – Kiểm tra tốc độ dòng chảy của mỗi vòi nước và khoảng cách giữa các lần sử dụng vòi nước. Đây là một nhiệm vụ cần một chút thời gian của bạn và một số dụng cụ đơn giản như bình đo lớn, một chiếc đồng hồ. Kiểm tra hoạt động của vòi uống trong 30 giây và đo lượng nước thu được. Nhân đôi kết quả để biết được tốc độ dòng chảy (Lít/phút) (bảng 2). – Kiểm tra tốc độ dòng chảy của nước sẽ đưa ra được sự khác biệt giữa khu vực gần và xa nguồn cung cấp nước. Sự khác biệt đáng kể giữa tốc độ dòng chảy của vòi uống gần nguồn nước và vòi uống xa nguồn nước có thể chỉ ra được sự tắc nghẽn trong ống dẫn nước hoặc áp lực của nước. – Áp lực nước có thể bị ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như: đường kính của ống dẫn nước và vòi uống; bộ lọc bị bẩn, chất bẩn trong đường ống; chiều cao của nguồn nước. – Vòi uống phải đặt ở vị trí thích hợp để đảm bảo heo có thể uống được (bảng 3). Trong một ô chồng, vị trí của vòi nước phải đảm bảo tất cả các con heo đều có thể sử dụng được kể cả những con bé nhất hay lớn nhất trong đàn. – Vòi uống phải bố trí để heo dễ dàng sử dụng sau khi ăn, khoảng cách lý tưởng là cách máng ăn 1 – 2 m. – Dễ dàng và nhanh chóng tiếp cận với vòi uống là điều cần thiết để tránh mất nước. – Heo ăn thức ăn ướt phải đảm bảo có nguồn nước sạch riêng biệt. – Đảm bảo tránh lãng phí nước và sửa chữa đường ống bị rò rỉ kịp thời bởi vì đường ống hỏng sẽ làm tăng thêm lượng bùn đất vào nước. – Có thể thiết lập một mô hình hệ thống nước cơ bản để có thể giám sát nguồn cung cấp nước và những thay đổi hệ thống khi cần thiết ví dụ như xác định điểm rò rỉ, tắc nghẽn, sửa chữa chuồng trại …ngoài ra còn có thể theo dõi được sự thay đổi mức thu nhận nước của heo khi thay đổi thức ăn, tăng hoặc giảm nhiệt độ chuồng, dịch bệnh… – Các thử nghiệm đã chỉ ra rằng khi dịch bệnh bùng phát thì sự thay đổi về tiếp nhận nước uống sẽ rõ ràng và nó xảy ra trước khi có dấu hiệu lâm sàng. Bảng 1: Yêu cầu về nước Hệ thống Yêu cầu tối thiểu ( heo xuất chuồng) Núm uống (ăn hạn chế)< 1 cái cho 10 heo Núm uống (ăn tự do) Núm uống (ăn tự do) Máng uống (ăn hạn chế) 1 cái cho 20 heo Máng uống (ăn tự do) 1 cái cho 30 heo Không gian máng uống 30 cm/25 heo Bảng 2: Nhu cầu nước hằng này và tốc độ dòng nước tối thiểu cho trọng lượng khác nhau của heo Trọng lượng heo (kg) Ước tính nhu cầu hằng ngày (lít) Tốc độ nước tối thiểu trên một núm uống (l/phút) Mới cai sữa 1,0 – 1,5 0,3 Cai sữa đến 20 kg 1,5 – 2,0 0,5 – 1,0 20 kg đến 40 kg 2,0 – 5,0 1,0 – 1,5 Xuất chuồng đến 100 kg 5,0 – 6,0 1,0 – 1,5 Nái và nái hậu bị (nái chờ phối, nái chửa) 5,0 – 8,0 2,0 Nái và nái hậu bị (cho con bú) 15 – 30 2,0 Heo đực 5,0 – 8,0 2,0 Bảng 3: Chiều cao núm uống cần thiết Khối lượng heo (kg) Chiều cao(mm) Chiều cao (inch) 7 – 8 250 – 350 10 – 14 19 – 35 350 – 450 14 – 18 35 – 60 500 – 600 20 – 24 60 – 95 600 – 750 24 – 30 Nái hậu bị 750 30 Nái /heo đực 800 – 950 32 – 38 Chất lượng nước Nguồn cung cấp nước cho heo nên phù hợp với điều kiện của trang trại và vấn đề vệ sinh là một yếu tố quan trọng. – Nước trong bể chứa và đáy bể nên được kiểm tra thường xuyên để làm sạch khi cần thiết. – Bể chứa nước phải được che đậy tránh gây ô nhiễm. – Đường ống dẫn nước, vòi uống, bể chứa nước phải được làm sạch thường xuyên và được kiểm tra dòng chảy qua các vòi uống. – Thường xuyên kiểm tra hệ thống đường ống bằng cách kiểm tra chất cặn trong nước tại mỗi vòi uống. – Vi sinh vật, các yếu tố vật lý, hóa học có thể ảnh hưởng đến chất lượng nước chính vì vậy nếu có bất kỳ nghi ngờ về chất lượng thì nên lấy mẫu, phân tích. – Nước từ nguồn giếng khoan cũng nên thử nghiệm định kỳ. VietDVM team dịch (theo thepigsite) Nguồn: vietdvm.com

Đọc tiếp
Ảnh hưởng của kích thước hạt thức ăn đến sức khỏe của heo 17-07-2019

Ảnh hưởng của kích thước hạt thức ăn đến sức khỏe của heo

Mục tiêu sản xuất trong ngành thịt heo thế giới khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu thị trường và thói quen ăn uống ở các quốc gia khác nhau, nhưng mục tiêu chính là hiệu quả và sức khỏe của động vật ở mức cao. Với trọng lượng xuất bán càng cao, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn cao hơn do tuổi heo cao hơn khi chúng đạt trọng lượng cuối cùng. Tuy nhiên, các yếu tố như di truyền, môi trường, thức ăn, sức khỏe, vệ sinh và chuồng trại có ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi không phụ thuộc vào trình độ sản xuất. Ngoài thành phần và mật độ dinh dưỡng trong thức ăn, hai chỉ tiêu bổ sung ảnh hưởng đến hiệu suất và sức khỏe của heo là: dạng thức ăn và kích thước hạt. Dạng thức ăn là cấu trúc vật lý của thức ăn, chẳng hạn như thức ăn bột, bẻ mảnh hoặc viên. Dạng bột và viên được sử dụng chủ yếu trong thức ăn cho heo. Kích thước của các hạt đơn lẻ trong thức ăn bột hoặc viên được xác định bởi kích thước hạt thức ăn, được biểu thị bằng kích thước hạt trung bình và phân bố kích thước hạt. Kích thước hạt có ảnh hưởng heo đến năng suất của heo và tình trạng sức khỏe của nó. Dạng thức ăn có tầm quan trọng thứ yếu Dạng thức ăn có tầm quan trọng nhỏ so với kích thước hạt. Tuy nhiên, vẫn cần phải xem xét một số điểm nhất định: thức ăn dạng viên có mật độ dinh dưỡng cao hơn trên mỗi đơn vị thể tích và có thể cải thiện khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng. Hơn nữa, lãng phí thức ăn được giảm mặc dù lượng ăn vào không được cải thiện rõ ràng. Ngoài ra, đặc tính trơn chảy của sản phẩm tốt hơn, thao tác và vận chuyển dễ dàng hơn, giảm nguy cơ ô nhiễm vi khuẩn và giảm mức độ bụi là những lợi thế chính của thức ăn viên. Mặt khác, thức ăn bột ít tốn kém hơn để sản xuất, và điều này dẫn đến việc giảm chi phí sản xuất. Về lượng thức ăn, heo có thể được cho ăn dạng bột mà không bị hao hụt đáng kể vì heo không phân biệt giữa các kích cỡ hạt khác nhau hoặc màu của nguyên liệu thô. Liên quan đến thức ăn dạng bột, một điểm quan trọng liên quan đên lượng thức ăn vào có thể là do tính ngon miệng của thức ăn vốn được cải thiện sau khi ép viên. Quyết định về hình thức thức ăn mang tính cá nhân và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nói chung, chi phí thức để sản xuất thức ăn viên sẽ dẫn đến hiệu quả chăn nuôi cao hơn để đạt được sự cân bằng kinh tế. Nghiền mịn hơn cùng một lượng nguyên liệu thô dẫn đến tổng diện tích bề mặt lớn hơn. Do đó, các enzyme có diện tích lớn hơn để hoạt động và giải phóng chất dinh dưỡng. Kích thước hạt, sự cân bằng giữa hiệu quả và sức khỏe Thay đổi đổi kích thước hạt thức ăn ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất heo. Các hạt càng nhỏ, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn càng tốt. Với quá trình nghiền mịn hơn từ cùng một thể tích thức ăn, tạo ra nhiều hạt đơn lẻ hơn, dẫn đến tổng diện tích bề mặt tăng lên. Do đó, một khu vực rộng lớn hơn đươc các enzyme tiêu hóa tiếp cận, làm tăng cường giải phóng chất dinh dưỡng và hấp thụ. Một hệ quả khác là năng lượng trao đổi tăng lên khi kích thước hạt giảm. Ngoài các khía cạnh hiệu suất, các vấn đề sức khỏe cũng phải được xem xét vì chúng giới hạn độ mịn của kích thước hạt trong thức ăn cho heo. Một quan sát cho thấy sự phát triển của đường ruột giảm do các hạt mịn có sự kích thích yếu trong quá trình tiêu hóa, dẫn đến giảm hiệu quả của dạ dày. Hơn nữa, nhiều nghiên cứu chứng minh mối liên hệ giữa sự hình thành các tổn thương dạ dày khi kích thước trung bình của hạt giảm. Điều này là do thức ăn với các hạt mịn dẫn đến chất chứa dạ dày nhiều hơn. Dạ dày được chia thành hai khu vực có giá trị pH và biểu mô khác nhau. Nếu chất chứa dạ dày trở nên quá nhiều, điều này cản trở việc duy trì sự phân chia này. Do đó, hàm lượng axit cao của phần dưới dạ dày có thể tấn công biểu mô nhạy cảm hơn ở phần trên và gây ra tổn thương. Phân bố kích thước hạt rộng (nhiều kích cỡ) có tác động tương tự trên đường ruột như tác động của kích thước hạt nhỏ. Tóm lại, phân bố kích thước hạt hẹp và các hạt thô làm giảm tỷ lệ mắc và mức độ nghiêm trọng của tổn thương và loét dạ dày. Do đó, cần phải tìm sự cân bằng phù hợp giữa hiệu quả của động vật thông qua hạt mịn và cải thiện sức khỏe động vật thông qua hạt thô. KÍCH THƯỚC HẠT CÓ ảnh hưởng heo đến năng suất của heo. Ảnh hưởng của các chỉ tiêu chế biến Trong quá trình nghiền, các yếu tố khác nhau, chẳng hạn như búa, sàng, tốc độ đầu, khoảng cách trục ảnh hưởng đến kích thước của hạt. Ngoài các thông số của máy, loại nguyên liệu thô cũng có tác động đến quá trình tạo hạt và đặc biệt là độ đồng đều của kích thước hạt. Trong sản xuất thức ăn cho heo, người ta thường sử dụng máy nghiền búa hoặc kết hợp giữa búa và máy nghiền trục. Mặc dù có thể đạt được sự đồng đều tốt nhất, nhưng chỉ sử dụng máy nghiền trục cho thức ăn cho heo không có ý nghĩa vì kích thước hạt trung bình của máy nghiền trục tương đối thô. Hơn nữa, việc nghiền đủ các thành phần xơ, như lúa mạch, là không thể. Việc giảm thêm kích thước trung bình của hạt xảy ra trong quá trình ép viên tùy thuộc vào máy móc được sử dụng, quy trình và loại nguyên liệu thô. KÍCH THƯỚC HẠT LÀ công cụ lý tưởng để tìm ra sự cân bằng giữa hiệu quả chăn nuôi, sức khỏe và hiệu quả sử dụng thức ăn. Khuyến cáo về kích thước hạt trong thức ăn cho heo Một đường tiêu hóa khỏe mạnh là rất quan trọng để đạt được năng suất cao trong toàn bộ thời kỳ tăng trưởng. Do đó, đặc biệt đối với động vật già, điều cần thiết là phải điều chỉnh kích thước hạt thức ăn không chỉ nhằm đạt được tối đa hiệu suất, mà còn với mục đích đảm bảo tình trạng sức khỏe bền vững cho động vật. Khuyến nghị về kích thước hạt cho heo đang phát triển là 400-700 micron, tính đến hiệu suất tăng trưởng, hình thái dạ dày và tỷ lệ tiêu hóa chất dinh dưỡng. Đối với heo con, kích thước hạt mịn hơn trong khoảng 200-400 micron là phù hợp với hệ thống tiêu hóa của chúng, vẫn còn chưa phát triển. Trong thức ăn của heo, kích thước hạt phải phù hợp với sinh lý, hệ tiêu hóa và tuổi của động vật, cũng như các mục tiêu sản xuất của trang trại và các yêu cầu riêng. Kích thước hạt trung bình và độ đồng đều về kích thước hạt bị ảnh hưởng bởi nguyên liệu thô cũng như loại máy nghiền, và các thông số của quá trình nghiền và ép viên. Vì lý do này, điều quan trọng là tập trung vào các khía cạnh chế biến thức ăn cũng như các thành phần dinh dưỡng và khẩu phần. Kích thước hạt là công cụ lý tưởng để cân bằng giữa hiệu quả, sức khỏe và tối ưu hiệu quả sử dụng thức ăn. Biên dịch: Ecovet Team (theo feedstrategy-digital.com) Nguồn: Nhachannuoi

Đọc tiếp
Trang trại gà thả vườn thân thiện 11-07-2019

Trang trại gà thả vườn thân thiện

Trang trại gà thả vườn tại Acton, phía Nam Tasmania, Australia, thuộc sở hữu của ông Steven Pavlides. Toàn cảnh trang trại gà đẻ trứng của gia đình Steven Trang trại chú trọng việc nâng cao chất lượng trứng phục vụ người tiêu dùng. Steven và vợ ông, bà Shevaun điều hành trang trại rộng 5 ha từ cuối những năm 1980. Trang trại có quy mô 3.500 con, tương đương mật độ 3 con/m2. Gần đây, nhu cầu tiêu thụ trứng hữu cơ từ các trang trại thả vườn ngày càng tăng cao, vì vậy ông Steven đã đầu tư các thiết bị hỗ trợ chuồng trại của hãng SKA nhằm kiểm soát chất lượng đàn và hỗ trợ hiệu suất thu nhặt trứng của trang trại. Ông Steven sử dụng 9 người để làm nhiệm vụ đóng gói trong nhà kho và đang kêu gọi người tiêu dùng hỗ trợ nông dân địa phương để tạo thu nhập và công việc cho cộng đồng. Người Australia tiêu thụ khoảng 13 triệu quả trứng mỗi ngày và nhu cầu tiếp tục tăng cao. Khoảng 55% trứng được bán và sản xuất trong các hệ thống đặt lồng, với 9% đặt chuồng và 34% thả vườn. Trứng hữu cơ và đặc sản khác chiếm 2%. Ông Steven bên đàn gà Thu hoạch trứng cùng con gái Emma Trang trại của ông Steven Pavlides rộng 5 ha Trang trại đầu tư các thiết bị cho ăn và chăm sóc hiện đại Nguồn: nguoichannuoi

Đọc tiếp
CHỦ ĐỘNG PHÒNG BỆNH VÀ DUY TRÌ SỨC KHỎE CHO ĐÀN VỊT ĐẺ TRONG MÙA MƯA 21-06-2019

CHỦ ĐỘNG PHÒNG BỆNH VÀ DUY TRÌ SỨC KHỎE CHO ĐÀN VỊT ĐẺ TRONG MÙA MƯA

Nam Bộ đang vào mùa mưa trong năm. Tuy nhiên, giữa các đợt mưa sẽ có những ngày nắng nóng, độ ẩm cao, rất khó chịu. Sau đó, trời lại mưa dông-nhiệt, làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe các đàn vịt đẻ của bà con chăn nuôi. Chăn vịt ở quê mùa mưa bão - Nguồn internet Biểu hiện rõ nhất là đàn vịt đẻ giảm ăn, mệt mỏi. Tỷ lệ đẻ giảm hẵn. Trứng nhỏ và mỏng vỏ xuất hiện nhiều hơn. Tình trạng suy giảm miễn dịch trên đàn vịt cũng là điều kiện thuận lợi cho các loại mầm bệnh trỗi dậy, tấn công đàn vịt đẻ của bà con nông dân. Một số bệnh phổ biến thường xuất hiện là: 1. Tụ Huyết trùng: - Thể quá cấp tính: vịt chết mà không thấy xuất hiện các dấu hiệu cụ thể nào. - Thể cấp: vịt giảm ăn, sốt cao,tiêu chảy, thở gấp khi chết có dịch tràn ra từ miệng. 2. Ngộ độc Aflatoxin: - Do môi trường nóng ẩm, thuận lợi cho nấm mốc phát triển trong lớp độn chuồng, thức ăn thừa hoặc thức ăn bị ẩm mốc do bảo quản kém… Biểu hiện rõ nhất là vịt giảm ăn, uống nhiều nước, đi phân lõng màu xanh, trắng. Vịt bị co giật, da tái, ốm, xuất huyết dưới da và bàn chân. 3. Nấm phổi: - Vịt khó thở, ốm, giảm ăn, nhiều con chết rất nhanh. 4 .Các bệnh khác như dịch tả, bại huyết… cũng thường xuất hiện trong mùa này. >> Để chủ động phòng chống stress và các bệnh phát sinh trong mùa này, bà con chăn nuôi nên thực hiện các biện pháp sau: 1. Xem dự báo thời tiết để chủ động chăm sóc, di dời đàn vịt đến nơi thích hợp. 2. Tuân thủ đúng qui trình làm vaccine các bệnh như cúm, dịch tả, viêm gan hay tụ huyết trùng, cho đàn vịt. 3. Tăng cường sức khỏe và miễn dịch không đặc hiệu của đàn bằng cách bổ sung các chế phẩm có chứa vitamin, lợi khuẩn và butaphosphan như: SUPER-EGGS , CATOFOS và NUTRILACZYM . (Tham khảo Cách sử dụng vui lòng click vào ảnh sản phẩm bên dưới) 4. Phát hiện kịp thời các dấu hiệu bất thường về sức khỏe của đàn vịt. Điều trị kịp thời, đúng thuốc, đủ liệu trình để đàn vịt nhanh chóng phục hồi và tránh tình trạng kháng thuốc. Phòng KT - R.E.P Biotech Nguyễn Đình Trung.

Đọc tiếp
ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH TRÊN ĐƯỜNG HÔ HẤP BẰNG CÁCH SỬ DỤNG TINH DẦU 19-06-2019

ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH TRÊN ĐƯỜNG HÔ HẤP BẰNG CÁCH SỬ DỤNG TINH DẦU

Hệ thống hô hấp đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dưỡng khí (oxy) cho các quá trình biến dưỡng, nhằm sản xuất ra năng lượng phục vụ mọi hoạt động sống cho cơ thể động vật. Do bề mặt tiếp xúc để trao đổi khí trực tiếp với môi trường lớn, nên hệ thống này rất dể bị các tác động bởi các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học, có khả năng gây hại đến sức khỏe vật nuôi. Một khi hệ thống hô hấp bị trục trặc do bị lây nhiễm các loại mầm bệnh như vi trùng hay bụi bẩn, khí độc…dưỡng khí cung cấ p cho cơ thể vật nuôi bị hạn chế , dẫn đến suy giảm về năng suất hay thậm chí là gia tăng tỷ lệ chết trong đàn. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ - Vật nuôi có năng suất càng cao, càng dể mắc bệnh hô hấp do nhu cầu cần cung cấp dưỡng khí nhiều hơn, cường độ hô hấp cao hơn. - Mật độ chăn nuôi cao dẫn đến chất lượng không khí trong chuồng nuôi giảm thấp. Áp lực bệnh tật tăng lên. - Mùi hôi từ chất thải động vật càng cao, các trục trặc trên đường hô hấp của vật nuôi càng thường xuyên và nghiêm trọng. - Trại chăn nuôi nào có hiện tượng kháng kháng sinh thì tần suất xuất hiện bệnh hô hấp càng cao. CHIẾN LƯỢC KIỂM SOÁT BỆNH - Chú ý mật độ nuôi, thời gian nuôi phù hợp với từng đối tượng vật nuôi. - Kiểm soát an toàn sinh học, mùi hôi chuồng - Sử dụng kháng sinh đúng nguyên tc, không để kháng thuốc. - Sử dụng các loại tinh dầu thực vật có khả nă ng bảo vệ đường hô hấ p của vật nuôi. BioPi Là Gì? - Là tổ hợp các loại tinh dầu thực vật, vi sinh hữu ích và vitamin nhóm B được sử dụng trong các trường hợp phòng và trị các bệnh trên đường hô hấ p. CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG - Các loại tinh dầu giúp kích thích cơ thể tă ng tiế t chấ t nhầy trên niêm mạc đường hô hấ p, làm tă ng chuyển động của các lông rung, nhằm ngă n cản sự xâm nhập của vi trùng gây bệnh vào bên trong niêm mạc đường hô hấ p.Chúng còn có các tác dụng như kích thích hệ miễ n dịch tă ng cường hoạt động để tiêu diệt mầm bệnh, giúp dể thở,tă ng cường tố i đa trao đổi khí oxy. - Lợi khuẩn trong sản phẩm Bio Pi giúp cân bằng vi sinh đường ruột, tố i ưu hóa hoạt động tiêu hóa và hấ p thu, giảm mùi trong chấ t thải động vật. - Các vitamin nhóm B có tác dụng cải thiện tính thèm ă n, giúp vật nuôi duy trì nă ng suấ t tố t. Trên thực tế , BioPi có tác dụng rấ t tố t khi dùng để phòng ngừa các bệnh trên đường hô hấ p do thay đổi thời tiế t, áp lực dịch bệnh… hay kế t hợp với kháng sinh trong điều trị. Các hoạt chấ t kháng khuẩn bay hơi có nguồ n gố c thực vật trong BioPi khi bài xuấ t qua khí thở, sẽ ngă n cản sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh trong khí quản (một cơ quan ít mạch máu), nơi hầu hế t các kháng sinh và thuố c chố ng mycoplasma khác không đế n được.

Đọc tiếp
popup

Số lượng:

Tổng tiền: