HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

VIDEO CLIP

TÌM KIẾM

ĐĂNG NHẬP WEBMAIL

LIÊN KẾT WEB SITE

Thống kê

  • Đang Online: 1
  • Số truy cập trong ngày: 72
  • Tổng số truy cập: 9563184

Hội chứng sưng phù đầu

Cập nhật ngày: 05:55, 27/06/2011

SHS là một bệnh nguy hiểm và khả năng lây lan rất nhanh trên gà, gà tây, gà giống Guinea và gà lôi. Bệnh do virus giống Pneumovirus, họ Paramyxovirus gây ra

A/ Lịch sử bệnh:

Vào những năm 60, triệu chứng lâm sàng của bệnh SHS rất khó chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác như TRT. Người ta nhận thấy rằng SHS và TRT (Turkey Rhinotracheitis), cảhai bệnh có thể là nguồn gốc từ bệnh Avian Pneumovirus. Vào thời điểm này, Mỹ lại nghiên cứu và thấy rằng chúng rất giống với bệnh Bordetella Avium. Bởi vì nguyên nhân gây nhiễm bệnh SHS rất đa dạng và phức tạp cũng như virus SHS là virus rất khó phân lập trong phòng thí nghiệm. Do đó, nguyên nhân gây ra bệnh SHS chỉ có thể căn cứ vào quan sát những triệu chứng đầu tiên của bệnh

Virus gây bệnh SHS trên gia cầm được tìm thấy đầu tiên ở Nam Mỹ vào năm 1978 và vẫn không xác định được nguyên nhân gây nhiễm bệnh. Từ năm 1986, các cuộc thí nghiệm đi tìm hiểu nguyên nhân gây nhiễm bắt đầu thực hiện. Sau đó, bệnh SHS xuất hiện và lan rộng khắp Châu Âu, Châu Phi, Nam Mỹ và Bắc Mỹ. Khi tiến hành phân lập virus SHS trên gà, người ta đã tìm thấy kháng thể chống lại virus SHS. Lister và Alexander đã báo cáo rằng bệnh SHS có nguồn gốc từ Avian Pneumovirus và lây lan trong nhiều năm liền ở Anh, Pháp, Ý, Nam Mỹ, Israel,…

Ở Anh và một số một số quốc gia khác, bệnh SHS có thể xem là một bệnh mới và tốc độ lây lan rất nhanh. Ở những khu vực chăn nuôi gia cầm như Anh hay Wales, 9 tuần đầu tiên khi bùng phát dịch bệnh, khả năng kiểm soát bệnh rất khó khăn và tùy thuộc rất lớn vào môi trường xung quanh (Nước, Khí Hậu,…), quá trình dịch chuyển (người chăn nuôi, thức ăn, phương tiện,…), tiếp xúc với mầm bệnh (chất tiết từ đường hô hấp,…) thải ra từ thú bệnh. Bệnh có thể lây lan từ trại này sang trại khác hay trong giai đoạn ấp trứng từ 5-7 ngày, tỷ lệ nhiễm bệnh là 10-100% và tỷ lệ tử vong từ 1-10%.

 

B/Đặc điểm virus:

1/ Phân lập và  xác định virus:

v     Trong giai đoạn đầu, chúng ta rất khó chẩn đoán vì cấu tạo và tính chất tự nhiên phức tạp của virus

v     Quá trình phân lập thông thường căn cứ vào môi trường phân lập và thời điểm tiến hành phân lập.

v     Phân lập hiếm khi thành công khi gia cầm có triệu chứng bệnh tiềm ẩn hay triệu chứng xuất hiện nhanh và trầm trọng.

v     Rất khó phân lập virus trên gà do trên gà luôn luôn xuất hiện nhiều triệu chứng phụ nhiễm của vi khuẩn E. coli.

 

 2/ Nguyên nhân gây bệnh:

v     Do virus thuộc họ Paramyxoviridae, là virus RNA, sợi đơn, không phân cực, capsid đối xứng xoắn, bám và kết lại trong tế bào chất và có thể sinh sôi nảy nở trên bề mặt tế bào

v     Bao gồm 3 giống:

·        Morbilivirus

·        Paramyxovirus

·        Pneumovirus: chúng ta cần phân biệt với các dòng Paramyxovirus Hemagglutinating và Neuraminidase không hoạt động; đường kính là: 12-15 nm, bao gồm nhiều Polypeptide và Non-Polypeptide. Đồng thời chúng cũng là virus gây nhiễm bệnh trên đường hô hấp ở Người, Bò, Chuột,...

 

C/ Con đường lây lan:

 

·        Tiếp xúc với thú bệnh

·        Tiếp xúc với dịch chất, thú hít phải virus từ những chất dịch từ đường hô hấp gia cầm bệnh

·        Tiêm ngừa dịch chất gây nhiễm từ noãn hoàn (lòng đỏ trứng) trên phôi trứng gây chết phôi gà và gà tây sau 4-5 lượt nhưng virus có chuẩn độ thấp. Tương tự vậy, khi tiêm qua tế bào hay khí quản thì nhưng virus cũng có chuẩn độ thấp. Tuy nhiên, phân lập được chỉnh sửa lại trong môi trường phôi hay khí quản có khả năng là bản sao của môi trường tế bào phôi gà, gà tây. Vero-cell và BSC1 với đặc tính tế bào nên ảnh hưởng đến thông tin nội bào và liên quan đến việc làm tăng độ chuẩn của virus

 

D/Cách sinh bệnh:

·        Khi nhiễm SHS thì có thể kéo theo nhiễm TRT trên loài gà.

·        Mặc dù tỷ lệ tử vong và khả năng gây bệnh của TRT rất cao nhưng rất khó phân lập trong phòng thí nghiệm. Triệu chứng gây ra trên chim nhẹ hơn trên gà, trên gà có triệu chứng hô hấp. Trong phòng thí nghiệm và sự gạy bệnh khác phụ thuộc vào môi trường nuôi và cơ thể từng loài

 

E/ Chẩn đoán:

·       Dựa vào triệu chứng lâm sàng

·       Căn cứ vào phản ứng huyết thanh học để phân lập virus

·       Chẩn đoán phân biệt với Bronchitis (IB), Lentogenic Newcastle, cúm gia cầm với virus động lực thấp, Ornithobacterium rhinotracheale.

·       Phương pháp huyết thanh học – Elisa, không phải với bất kỳ phương pháp thương mại nào cũng đều cho phản ứng với cả hai loại kháng nguyên A và B của virus SHS

F/ Triệu chứng: Loài gây bệnh: Gà, Gà tây

Tỷ lệ gây bệnh cao (100%) và rất cao ở gia cầm mọi lứa tuổi. Lứa tuổi nhạy cảm: Gia cầm non

v     Tỷ lệ tử vong: 0.4-90%, tử vong cao nhất ở loài nhỏ tuổi

·        Sưng phù mặt và đầu (Cần phân biệt với các bệnh khác cũng thấy xuất hiện những triệu chứng tương tự)

·        Xuất hiện những triệu chứng tương tự Coryza hay TRT, nhưng đôi khi xuất hiện những triệu chứng tiềm ẩn

·        Giai đoạn sau khi phụ nhiễm Escherichia coli, xuất hiện triệu chứng phù đầu

·        Giảm ăn, tăng trọng giảm, giảm hiệu suất

·        Mất tiếng

·        Khó thở, viêm xoang

·        Âm rale, hắt hơi, chảy nước mắt nước mũi, viêm màng kết như bọt, sưng tấy và hồng lên

·        Hàm dưới bị phù

·        Sản xuất trứng giảm (có thể 70%) cùng biểu hiện đau đường hô hấp

v     Trên gà giò:

·        Sưng các xoang trên và dưới mắt, trẹo cổ, mất phương hướng và suy nhược cơ thể trầm trọng. 4%tổng đàn bị nhiễm, đôi khi lan rộng và có triệu chứng trên đường hô hấp nặng

·        Sưng phù đầu ở loài trưởng thành

 

G/ Bệnh tích:

  • Viêm mũi và viêm khí quản trầm trọng, đôi khi thấy mủ ở khí quản.
  • Nếu phụ nhiễm bởi Ecoli sẽ dẫn đến viêm phổi, sung huyết, phù nề và có mủ trong sọ

H/ Phòng và kiểm soát bệnh:

1/ Phòng:

 

a/ Công tác quản lý trong chăn nuôi:

v     Chuồng trại thông thoáng và tránh mưa tạt gió lùa

v     Cải thiện vệ sinh chuồng trại, chất độn chuồng

v     Không trộn lẫn các lứa tuổi với nhau

v     Tránh Stress

v     Chế độ dinh dưỡng hợp lý

v     Tiêu diệt tận gốc mầm bệnh

v     Áp dụng phương pháp nuôi: “Cùng vào và cùng ra”

v     Tiêm phòng vaccin (phòng trên cả hai nhóm động lực của virus A và B). Vaccin sống có thể làm giảm bệnh, giảm triệu chứng và nguy cơ gây hại khác của bệnh; Vaccin nhược độc dùng trên gà giống và hay gà đẻ trứng

b/ Vaccin phòng bệnh:

v     Không có vaccin phòng bệnh, một nghiên cứu ở Pháp cho biết, chúng ta có thể sử dụng vaccin sống nhược độc dạng nhũ dầu trên gia cấm một ngày tuổi giúp hạ thấp tỷ lệ chết, giảm nguy cơ lây lan đối với những gia cầm chưa được tiêm chủng

v     Nếu sử dụng vaccin phòng Newcastle với thời gian không hợp lý sẽ dẫn đến trầm trọng bệnh, và tăng nguy cơ mắc bệnh và tăng tỷ lệ tử vong

 

2/ Điều trị:

v     Sử dụng kháng sinh không hiệu quả

v     Kiểm soát bệnh trên đường hô hấp, khử trùng bằng dung dịch có chứa Clo, cung cấp hỗn hợp vitamin

v     TRT với kháng sinh với mức độ thành công rất khác nhau. Giảm nguy cơ trầm trọng của bệnh với chế độ uống kháng sinh, có thể đoán được giai đoạn phụ nhiễm.

v     Tập trung đánh thuốc trên giai đoạn phụ nhiễm thứ hai, mức độ thành công thấp.

v     Điều trị vẫn chưa tìm thấy hiệu quả

 

3/ Kiểm soát và ngăn ngừa bệnh:

v     Trong phần trình bày ở trên, tất cả chúng ta đều hiểu rõ được tầm quan trọng của bệnh SHS là như thế nào. Bệnh SHS có thể nói là một bệnh gây thiệt hại nặng nề cho nhà chăn nuôi và có khả năng lây lan rất rộng. Một khi dịch bệnh bùng nổ thì chúng ta rất khó chẩn đoán bệnh vì bệnh thường phối hợp với nhiều bệnh lý khác cũng như phụ nhiễm thêm các vi khuẩn khác như E.coli,…và hiện tại vẫn chưa có thuốc đặc trị hữu hiệu.

 

v     Nay công ty REP chúng tôi xin giới thiệu đến quý nhà chăn nuôi biện pháp phòng ngừa bệnh “Hội chứng sưng phù đầu ở Gia Cầm”. Chúng ta nên áp dụng biện pháp phòng bệnh bằng cách tăng cường bảo vệ đàn gia cầm ngay từ đầu, gia tăng kích thích tiêu hóa bằng cách đưa các chế phẩm sinh học bao gồm các vi sinh vật có lợi cùng các dưỡng chất nhằm ổn định hệ vi sinh vật đường ruột phát triển ổn định và kích thích đàn gia cầm tiêu hóa hấp thu dưỡng chất. Từ đó, phòng một số bệnh đáng kể trên gia cầm.

v     Một số chế phẩm sinh học đang được sử dụng phổ biến trên thị trường giúp phòng và trị bệnh trên gia cầm hiệu quả: Chế phẩm sinh học Nu-Pre (Giúp kích hoạt hệ miễn dịch và tăng trọng), Mano-Glucan (Giúp tăng cường sức đề kháng, kích thích hệ miễn dịch), Detoxi (Giải độc gan thận), Antitress (Giúp tăng lực, phục hồi sức khỏe và chống sốc)

Chia sẻ với bạn bè:
Gửi link bạn bè:

TIN LIÊN QUAN

HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG

Du lịch khách hàng Singapore - Malaysia 3
Du lịch khách hàng Singapore - Malaysia 2
Du lịch khách hàng Singapore - Malaysia 1
27
19
18
17
9
8
7
6
5
4
2
1

THÔNG TIN MỚI NHẤT

Quảng cáo